Trần Huy Liệu
Trần Huy Liệu sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo quê làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông được đào tạo là để làm quan hay chí ít cũng là một nhà nho. Nhưng số phận, hay nói đúng hơn là tấm lòng yêu nước, thương dân sớm nảy nở từ năm Trần Huy Liệu còn là một cậu bé 13,14 tuổi.

Trần Huy Liệu (1901-1969).
Sớm được tiếp xúc và thấu hiểu cuộc sống khốn khó của người dân lao động nghèo, chàng trai trẻ đã luôn khao khát tìm cho mình một con đường lập thân khác, chứ không phải là “theo chân cụ Khổng”. Con đường ấy cụ thể là gì, ban đầu Trần Huy Liệu cũng chưa thể mường tượng rõ cho mình. Con đường ấy chỉ trở nên rõ ràng hơn khi Trần Huy Liệu có cơ hội được tiếp xúc với “nền học mới” đang được các sĩ phu Đông Kinh Nghĩa Thục thời bấy giờ và qua những bài thơ ca yêu nước của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và thơ ca từ hải ngoại gửi về. Từ lúc ấy, con đường mà Trần Huy Liệu ao ước mình sẽ đi lâu dài, đó chính là con đường cách mạng, cứu dân, cứu nước. Cuối năm 1923, Trần Huy Liệu theo Bùi Trình Khiêm-người thày học, một nhà nho cấp tiến- rời quê hương vào Sài Gòn để thực hiện ước mơ. Thời ấy, để nói lên tâm trạng của mình trước thời cuộc, phương cách tốt nhất là viết báo. Nhưng không phải cứ muốn là được ngay. Phải mất gần một năm, sau khi phải bươn chải đủ nghề để kiếm sống, tháng 6/1924, Trần Huy Liệu mới được giới thiệu vào làm chủ bút cho tờ Nông cổ mím đàm - một tờ báo ra đời ở Nam Kỳ từ năm 1901-do Lâm Hiệp Châu làm chủ nhiệm. Có lẽ không ai táo bạo như Trần Huy Liệu. Vừa vào vùng đất mới, công việc mới, ngay bài báo đầu tiên trên tờ Nông cổ phím đàm, tân chủ bút Trần Huy Liệu đã làm “cuộc cách mạng”khi chuyển hướng tờ báo từ chuyên bàn về nghề nông sang bàn về chính trị với bài bình về tiếng bom yêu nước của liệt sỹ Phạm Hồng Thái ở Quảng Châu trong bài viết nhan đề “Tiếng bom Sa Điện ở Quảng Châu”, ký bút danh Đẩu Nam. Bài báo bị Ty kiểm duyệt xóa thì ông lại lấy bút danh Côi Vị. Vẫn thấy tư tưởng chống Pháp, chúng lại gạch bỏ.Bị nhiều lần “gạch xóa” liên tục như thế cho đến ngày thực dân Pháp quyết định đình bản tờ Nông cổ mím đàm. Không nản chí, Trần Huy Liệu cùng một số đồng nghiệp xuất bản tập Ngòi bút sắt. Trên tờ báo này, ông bắt đầu tập trung tố cáo chính sách bóp nghẹt báo chí và quyền tự do ngôn luận của thực dân Pháp. Vừa ra được một số, thì tờ Ngòi bút sắt lại bị thực dân Pháp cho đình bản. Nhưng mọi cánh cửa vẫn chưa khép lại với Trần Huy Liệu. Cuối năm 1924, mến mộ ngòi bút của Trần Huy Liệu, Chủ nhiệm tờ Đông Pháp thời báo mời ông về làm chủ bút. Trên tờ báo này, với bút hiệu Đẩu Nam, Côi Vị, ông lại tiếp tục công kích chính sách bóp nghẹt quyền tự do dân chủ, tự do báo chí của thực dân Pháp, góp phần biến Đông Pháp thời báo thành trung tâm của phong trào yêu nước, đòi tự do dân chủ ở Nam Kỳ. Chính Trần Huy Liệu cùng tờ báo này đã cổ động tích cực cho phong trào để tang Phan Chu Trinh, đón rước Bùi Quang Chiêu, đòi thả Nguyễn An Ninh... rầm rộ trong những năm 1925 – 1926. Cuối năm 1926, khi người chủ tờ Đông Pháp thời báo ngả sang xu hướng thân Pháp, Trần Huy Liệu quyết định từ chức chủ bút để khỏi “trông thấy tờ báo trở thành cơ quan tuyên truyền cho bọn dối dân lừa nước”.
Đầu năm 1927, Trần Huy Liệu sáng lập tờ Pháp Việt nhất gia do chính ông làm chủ bút. Pháp Việt nhất gia đã góp phần tích cực chống chủ nghĩa “Pháp Việt đề huề” của Đảng lập hiến do Bùi Quang Chiêu cầm đầu. Tờ báo ra được 27 số thì bị đình bản. Với tư cách chủ bút, ông bị bắt và bị kết án 6 tháng tù tại khám lớn Sài Gòn. Đầu năm 1928, ra khỏi tù, Trần Huy Liệu lại sáng lập Cường học thư xã, chuyên xuất bản những sách mang nội dung yêu nước, góp phần giúp cho nhiều thanh niên được giác ngộ cách mạng, thổi luồng gió mới vào phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Có thể nói, cuộc đời của Trần Huy Liệu, làm cách mạng gắn chặt với việc làm báo cách mạng.
Cuối năm 1929, thực dân Pháp đàn áp các tổ chức cách mạng, Trần Huy Liệu bị kết án 5 năm tù cấm cố, đày ra Hòn Cau (Côn Đảo). Chốn địa ngục trần gian vẫn không ngăn nổi người cách mạng duy trì niềm đam mê của mình. Trong tù, Trần Huy Liệu vẫn viết báo với bút danh Hải Khách; làm chủ bút tờ Hòn Cau và Tiếng sóng bể. Trong những năm bị tù ở Côn Đảo, ông đã tiếp thu Chủ nghĩa Cộng sản, tuyên bố ly khai Quốc dân Đảng, tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người Cộng sản. Từ đây, ông có nhiều đóng góp cho cách mạng , cho sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam cũng như cho nền sử học nước nhà. Ra tù năm 1934, bất chấp lệnh quản thúc, bất chấp mọi thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa của thực dân Pháp, Trần Huy Liệu vẫn lao ngay vào mặt trận báo chí, lập Nhà xuất bản Đông Dương để tuyên truyền truyền thống dân tộc và khích lệ lòng yêu nước. Bằng ngòi bút lão luyện, ông lần lượt làm cho các tờ: Đời mới, Bắc hà, Tiếng vang, Kiến văn, Hồn trẻ, Tiếng trẻ, Le travail, Rassemblement, En avant, Hà thành thời báo, Thời thế, Bạn dân... Cũng không khác thời kỳ làm báo ở Sài Gòn, cũng bởi không khí yêu nước, đòi tự do, dân chủ hòa bình hừng hực trên các trang báo, nên tờ báo nào Trần Huy Liệu làm chủ bút, cứ được một thời gian, xuất bản được 10, 15 số, thực dân Pháp “tức mắt” không chịu nổi lại ra lệnh đình bản.
Nhưng khí tiết của một cây viết giờ đã được vinh dự đứng trong hàng ngũ những người cộng sản, được Đảng phân công hoạt động trên mặt trận báo chí, đã khiến Trần Huy Liệu không những không nhụt chí mà còn tích cực hoạt động hơn nữa. Khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra hoạt động công khai và cho xuất bản tờ Tin tức (4/1938), Trần Huy Liệu được giao trọng trách là chủ bút tờ báo này. Tin tức đã trở thành một tờ báo có uy tín, trở thành người bạn thân thiết của hầu hết các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động. Khi tờ Tin tức bị đóng cửa, Xứ ủy Bắc kỳ quyết định ra tờ Đời nay để làm vũ khí đấu tranh, Trần Huy Liệu lại được cử làm chủ bút.
Tháng 10/1939, Trần Huy Liệu lại một lần nữa bị địch bắt. Tại nhà tù Sơn La, ông cùng Xuân Thủy sáng lập, làm chủ bút tờ Suối reo (lưu hành bí mật trong tù). Những ngày bị chuyển về nhà tù Bá Vân, Nghĩa Lộ, Trần Huy Liệu lại cùng các đồng chí của mình sáng lập hai tờ báo Dòng sông Công, Đường nghĩa, góp phần tích cực vào việc cổ vũ tinh thần đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng trong tù.
Đầu năm 1945, vượt ngục trở về hoạt động, Trần Huy Liệu lại được Đảng phân công làm tại Tòa soạn báo Cứu quốc - Cơ quan tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh. Trong thời kỳ Chính phủ lâm thời, ngay cả khi đã được giao trọng trách Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, nghiệp làm báo vẫn đeo đuổi ông. Có thời kỳ ông là chủ bút báo Sao Vàng. Trong những năm tháng cuối của cuộc đời, mặc dù đã chuyển sang nghiên cứu lịch sử, nhưng ông không ngừng viết báo và còn trực tiếp làm Tổng biên tập Tạp chí Văn-Sử-Địa, Tạp chí Nghiên cứu Lịch Sử. Không những chỉ là người làm báo, mà Trần Huy Liệu còn một nhà nghiên cứu lịch sử báo chí với nhiều công trình có giá trị. Trong hồi ký của mình, Trần Huy Liệu (1901-1969) đã khẳng định rằng, trong cuộc đời tham gia cách mạng, ông đã hai lần được sống trong những giây phút sung sướng nhất, đó là khi thảo Quân lệnh số 1 phát lệnh Tổng khởi nghĩa toàn quốc của Ủy ban Kháng chiến trong Cách mạng tháng Tám và nhận ấn kiếm thoái vị của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng triều Nguyễn.
Về việc thảo Quân lệnh số 1 phát lệnh tổng khởi nghĩa : “Đêm 13/8, trong một căn nhà lợp lá, tôi được đồng chí Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) ủy quyền cho thảo bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa. Mặc dù ngồi dưới ngọn đèn tù mù, những con tầm xuân, con thiêu thân bay quanh tới tấp, muỗi và dĩn thi nhau đốt làm tôi nhiều lúc nẩy người lên hay đập chân bành bạch, tôi vẫn say sưa nghĩ đến cảnh nước mất, dân nhục từ hơn tám mươi năm, nghĩ đến sự nghiệp cách mạng của mấy thế kỷ qua; những cuộc khởi nghĩa của Văn thân, của Việt Nam Quốc dân Đảng cho đến ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương”. Vì vậy “Bản Quân lệnh số 1 lúc ấy tôi thảo một mạch, đọc đi đọc lại vẫn không sửa chữa một chữ nào. Viết xong tôi trao cho anh Văn… Thế là cuộc tổng khởi nghĩa đã phát động”(Hồi ký Trần Huy Liệu).

Bản Quân lệnh Khởi nghĩa số 1 do Trần Huy Liệu soạn thảo năm 1945 (ảnh TLBTLSQG).
Sau Đại hội quốc dân ở Tân Trào, ông trở về Hà Nội, khi ấy Hà Nội đã giành được chính quyền. “Xe chúng tôi vào Hà Nội dưới một rừng cờ và biểu ngữ. Ký ức của tôi hôm nay cũng không còn nhớ được hôm ấy vào ngày nào, chỉ áng chừng là ngoài 20/8. Còn cảm tưởng của tôi ra sao? Chỉ nhớ là sung sướng quá đến nỗi ngây ngất cả người. Trước khi về Bắc Bộ phủ, xe chúng tôi còn vòng qua một lượt phố xá để thấy quang cảnh Thủ đô ngày Tổng khởi nghĩa”.Những ngày đầu khi cách mạng mới thành công, theo chỉ định của Trung ương Đảng và Chính phủ Lâm thời, phái đoàn do ông làm Trưởng đoàn cùng với đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận được cử vào Huế để nhận lễ thoái vị của vua Bảo Đại. Ông thay mặt cho Chính phủ Lâm thời còn đồng chí Nguyễn Lương Bằng thay mặt cho Mặt trận Việt Minh.

Mít tinh phát động Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám tại Nhà hát lớn HN 19-8-1945 (ảnh tư liệu).
Ngày 25/8/1945, phái đoàn lên đường. Trên suốt chặng đường, nhất là từ Thanh Hóa trở vào, tới Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, nhân dân biết có phái đoàn đi qua đều ra đứng ở hai bên đường chào đón rất đông. Khi đoàn cách thành phố Huế 12km đã gặp ông Phạm Khắc Hòe, Ngự tiền văn phòng của Bảo Đại ra đón, Bảo Đại khi ấy đang ở hoàng thành. Phái đoàn đã đề ra các điều kiện cho việc nhận lễ thoái vị của Bảo Đại với ông Phạm Khắc Hòe: “1-Sau khi đến điện Kiến Trung gặp Bảo Đại, chúng tôi sẽ nói cho biết ngày làm lễ thoái vị và nghi thức thủ tục của buổi lễ này. 2-Sau khi làm lễ thoái vị, Bảo Đại sẽ phải ra khỏi hoàng cung, chỉ được đem theo những đồ dùng riêng, còn những tài sản, vật liệu trong hoàng cung sẽ do Ủy ban Hành chính Trung Bộ làm biên bản và bảo quản. 3-Những lăng tẩm của hoàng tộc nhà Nguyễn là công trình của nhân dân xây dựng nên phải là tài sản của nhà nước. Họ nhà Nguyễn được đến đây cúng bái tổ tiên, nhưng không được nhận làm của riêng”. Đoàn cũng thống nhất cách xưng hô với vị vua cuối cùng của triều Nguyễn là “ông”. Mọi việc đã được sắp xếp đâu vào đấy cho ngày thoái vị của vua Bảo Đại.
Ngày 30/8/1945, Bảo Đại đọc chiếu thoái vị trước 5 vạn dân trước cửa Ngọ Môn. “Đọc xong Bảo Đại giơ hai tay dâng chiếc kiếm dài nạm ngọc và sau đó là chiếc ấn hình vuông. Tôi thay mặt Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp nhận hai vật tượng trưng cho chế độ”. Sau khi nhận ấn, kiếm, Trần Huy Liệu thay mặt Chính phủ đọc diễn văn tuyên bố xóa bỏ chính thể quân chủ, chấm dứt ngôi vua cuối cùng của triều Nguyễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cách mạng lâm thời ngày 3-9-1945; trong đó có Bộ trưởng Thông tin Trần Huy Liệu (ảnh tư liệu)
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chủ Tịch thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Ông cũng báo cáo về việc phái đoàn vào Huế nhận việc thoái vị của Bảo Đại và đệ ấn kiếm lên Hồ Chủ Tịch, hoàn thành nhiệm quan trọng và cũng đầy vinh dự của mình.Sau đó, Trần Huy Liệu còn giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động, Bí thư Tổng bộ Việt Minh, Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc, Ủy viên thường trực Quốc hội,… Đặc biệt, ông có những cống hiến xuất sắc cho nền sử học nước nhà, trong đó cuốn“Lịch sử 80 năm chống Pháp” đã đưa tên tuổi ông đứng vào đội ngũ những nhà sử học hàng đầu của Việt Nam. Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Sử học, và được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Khoa học CHDC Đức…
Các công trình nghiên cứu:
- Một bầu tâm sự, Cường học Thư xã –Sài Gòn (1927).
- Thái Nguyên Khởi nghĩa, Bảo Ngọc, hà Nội, 1935.
- Sơ thảo Lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam (1950).
- Lịch sử 80 năm chống Pháp, NXB Văn -sử- địa HN, 1956.
- Nguyễn Trãi- NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966.
- Lịch sử Thủ đô Hà Nội (chủ biên), Viện Sử học- 1967.
- Thơ Trần Huy Liệu; NXB văn học hà Nội- 1977.
- Hồi ký Trần Huy Liệu- NXB KHXH và Viện Sử học- 1991.
Minh Vượng
Nguồn:
- Hồi ký Trần Huy Liệu-NXB Khoa học Xã hội, 1991.
- Tư liệu của Hội Nhà Báo VN.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia



