TRẬN HUYẾT CHIẾN Ở PHƯƠNG DANH NAM
Đoạn kể về trận chiến ác liệt của Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3 Sao Vàng) tại thôn Phương Danh Nam trước Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968. Nhiệm vụ của đơn vị là bám trụ chiến đấu để kéo và ghìm chân chủ lực địch ngoài Quy Nhơn. Dù bị bom pháo, xe tăng và quân Nam Triều Tiên tấn công liên tiếp, lực lượng ta vẫn kiên cường chiến đấu suốt nhiều ngày, nhiều chiến sĩ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Sự hy sinh anh dũng của họ đã hoàn thành nhiệm vụ chiến lược, góp phần tạo điều kiện cho pho
Nhiệm vụ cơ bản của Trung đoàn 12 trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân là phải kéo cho được chủ lực địch và ghìm chân chúng ở ngoài thị xã Quy Nhơn để cho lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng tiến công, nổi dậy cướp chính quyền ở nội thị.
Những trận đánh mở đầu của trung đoàn ở Gò Trạm, Đập Đá và Sơn Lại Sứ (núi Bà) trong tháng 12 năm 1967 với tư tưởng “Đánh nhanh, rút nhanh” nên chưa tạo được sức ép mạnh để kéo chủ lực địch ra. Trong khi đó giờ G của chiến dịch Tổng tiến công đã tới gần.
Ban chỉ huy Mặt trận Nam Bình Định họp quyết định phải đánh lại thị trấn Đập Đá và trụ đứng ban ngày tại đó, khống chế đường số I, chẹn yết hầu thị xã Quy Nhơn. Chỉ có như vậy mới buộc chúng đưa quân ra giải toả, tạo điều kiện cho đặc công, biệt động và bộ đội tỉnh đưa lực lượng vào Quy Nhơn.
Lực lượng sử dụng vào trận đánh Đập Đá lần 2 gồm Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 và 1 Trung đội bộ binh huyện An Nhơn. Đây là trận đánh dự kiến sẽ hết sức ác liệt. Cán bộ chiến sỹ đều quàng khăn đỏ Ngô Mây (một anh hùng liệt sỹ thời chống Pháp của tỉnh Bình Định) thề dưới cờ Tổ quốc: “Sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”
Đêm 18 tháng 1 năm 1968 (trước Tổng tiến công Mậu Thân 13 ngày), Trung đoàn 12 xuất quân. Trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Hồng và Chính uỷ Trung đoàn Nguyễn Văn Vợi trực tiếp đến động viên. Quân số Tỉểu đoàn lúc đó, mỗi Đại đội chỉ có 30 tay súng do đồng chí Cừ (Chính trị viên Tiểu đoàn) và đồng chí Sen (Tiểu đoàn phó) chỉ huy, Trung đội của Huyện có 20 tay súng, do đồng chí Trợ , chính trị viên chỉ huy.
Một giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1968, Tiểu đoàn tiêu diệt gọn 2 Trung đội dân vệ tại trị trấn Đập Đá và phát triển chiếm lĩnh thôn Phương Danh Nam xây dựng trận địa. Phương Danh Nam là một thôn lớn, nằm phía Tây đường số 1, có nhiều cây cối. Đặc biệt có những luỹ tre già, cơ sở Cánh mạng của ta đã đào những hầm bí mật. Cán bộ Tiểu đoàn, Đại đội, Trung đội tranh thủ đi khảo sát địa thế, dự kiến hướng tấn công của địch, đặt ra các yêu cầu xây dựng tuyến phòng ngự của ta. Thực tế lúc đó bộ đội chưa được học chiến thuật phòng ngự trận địa, chỉ có phòng ngự chống càn. Chống càn thì đánh vừa phải, tiêu hao được địch là rút. Do yêu cầu nhiệm vụ chính trị lần này, Tiểu đoàn phải bám trụ đánh địch từ 5 đến 7 ngày. Đánh giữa đồng bằng và giữa vùng đất có nhiều căn cứ địch xung quanh. Biết chắc sẽ rất ác liệt, sẽ phải hy sinh nhưng không một ai tỏ ra dao động. Để dân khỏi liên luỵ, cán bộ ta đã vận động bà con sơ tán qua các thôn bên cạnh để tránh bom đạn. Trước hết là người già, trẻ em. Nhiều chị em phụ nữ kiên quyết ở lại giúp bộ đội nấu cơm nước và chăm sóc thương binh khi chiến đấu xẩy ra.
Đúng như dự đoán, 8 giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1968, bọn địch tưởng rằng trận đánh đêm qua chỉ là bộ đội địa phương nên cho hai Đại đội bảo an của quận An Nhơn kéo đến. Lập tức bị Tiểu đoàn xuất kích đánh tan tác. Chiều hôm đó, tên quận trưởng trực tiếp chỉ huy bọn tàn quân và tăng thêm 2 Đại đội bảo an khác, nhưng cũng bị đánh thiệt hại nặng phải rút lui.Sức mạnh của ta đã bộc lộ. Mất Đập Đá, thị trấn Bình Định bị uy hiếp trực tiếp, Thị xã Quy Nhơn bị đe doạ. Ngày hôm sau (20-1), tên Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định đi trực thăng tới khu chiến khảo sát. Hắn khẳng định “Quân của Sư đoàn Sao Vàng đã đến đây”. Thời đó, tiếng tăm Sư đoàn Sao Vàng là nỗi ám ảnh kinh hoàng của quân nguỵ, vì qua 2 mùa khô 1966, 1967, Sư đoàn Kỵ binh không vận Mỹ và Sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên đã không “tìm diệt” được họ mà còn bị họ tiêu diệt lại. Với sự khẳng định trên, tên Tỉnh trưởng cầu cứu Bộ Tư lệnh vùng II chiến thuật xin quân Nam Triều Tiên chi viện.
Nắm được tin tức tình báo nội tuyến về điều động lực lượng của địch, Ban chỉ huy Trung đoàn 12 chỉ thị cho Tiểu đoàn 6 phải tích cực củng cố công sự, xốc lại quân số, sẵn sàng đối mặt với quân Nam Hàn.
Mờ sáng ngày 21 tháng 1, địch cho 1 Trung đoàn Nam Triều Tiên có 32 xe tăng, xe bọc thép kéo đến. Mở đầu là những trận ném bom dữ dội xuống làng Phương Danh Nam, tiếp đó, các trận địa pháo từ Mỹ Long (xã Cát Thắng), chợ Gồm, Gò Trạm và pháo từ hạm đội ngoài biển Quy Nhơn bắn dồn dập hàng tiếng đồng hồ. Làng Phương Danh Nam chìm trong khói bụi và lửa cháy. Bộ đội ta vừa kịp tu sửa lại công sự thì 2 Tiểu đoàn bộ binh Nam Hàn có 2 chi đội xe tăng dẫn đầu, đột kích 2 hướng vào thôn Phương Danh. Chúng ngạo mạn dàn hàng ngang, những tưởng bộ đội ta đã bị nghiền nát sau 2 tiếng đồng hồ bom pháo dội xuống. Chiến sỹ ta được lệnh để cho chúng vào thật gần mới bất ngờ nổ súng. Mấy chiếc xe tăng đi đầu đã bị B40, B41 của ta bắn cháy. Bọn chỉ huy thúc lính xông lên. Từ trong các công sự, hào giao thông đã sụt lở, bộ đội ta đồng loạt nổ súng. Xác địch nằm phơi ở rìa làng, không kéo ra được. Từ đó, địch lặp đi lặp lại điệp khúc: Dùng bom pháo bắn phá rồi cho xe tăng dẫn bộ binh xông vào. Suốt ngày chúng tiến công hàng chục lần nhưng vẫn không vào được trận địa ta.
Mặt trời vừa xuống núi, địch tăng thêm quân hình thành thế bao vây vòng trong, vòng ngoài. Máy bay C130 thả đèn dù, bắn pháo sáng tầng cao, tầng thấp sáng rực. Bộ đội ta cũng tranh thủ xây dựng công sự kiên cố hơn. Đào hầm chứa thương binh, sửa chữa vũ khí... Cán bộ đi quan sát thế vây của địch để dự kiến hướng tiến công ngày hôm sau.
Ngày 22 và 23 tháng 1, địch dồn toàn bộ Trung đoàn Nam Triều Tiên và 1 liên đoàn bảo an phối hợp tiến công. Cường độ bom, pháo cao hơn. Thôn Phương Danh Nam bị cày nát, bị san bằng, nóng bỏng khói đạn. Cây cối gãy gục, nhà cửa đổ sập, đất bị xới thành bùn (chúng ném bom quá nhiều, nước từ ngoài ruộng ngấm vào, dềnh lên thành ao, thành vũng trong từng hố bom). Bộ đội ta bị tổn thất nặng, quân số hao hụt dần, nhưng vẫn bám giữ trận địa. Thương binh không thể đưa ra ngoài, được chị em dân quân du kích giúp đỡ chuyển xuống hầm bí mật hoặc đưa xuống các hầm do bộ đội ta mới đào.
Để giảm áp lực của địch đối với Tiểu đoàn 6, Ban chỉ huy Trung đoàn 12 cho Tiểu đoàn 5 đánh lên Bàng Châu, Cầu Xi-ta trên đường số I, nhằm thu hút địch. Nhưng bọn Nam Triều Tiên không để ý, cứ bám riết lấy Phương Danh Nam. Từ Sở chỉ huy Trung đoàn ở núi Bà nhìn xuống, chúng tôi ứa nước mắt khi nghĩ đến kết cục trận đánh, ứa nước mắt nghĩ đến lòng dũng cảm hy sinh của các chiến sỹ.
Ngày 24-1, ngày thứ 6 ở Phương Danh Nam, hầu hết bộ đội ta đều bị thương. Địch mở đợt tiến công tổng lực. Cả Tiểu đoàn chỉ còn 1 quả đạn B40, Đại đội trưởng Đại đội 3 Vũ Đăng Cộng đã bị thưong gãy một cánh tay. Anh bảo xạ thủ B40 đặt súng chống tăng lên vai, chờ cho xe tăng địch vào cách 20 mét mới nổ súng. Địch biết thế trận của ta đã suy giảm nên chúng vẫn thúc xe tăng và bộ binh tràn lên. Những cuộc hỗn chiến giữa bộ đội ta và bộ binh địch diễn ra khốc liệt khắp thôn Danh Nam. Những đồng chí bị thương nặng thì lắp đạn cho đồng chí bị thương nhẹ chiến đấu. Đồng chí này hy sinh, đông chí khác thay. Súng hết đạn thì dùng lưỡi lê, báng súng. Ở góc phía Tây thôn, bọn địch ỷ thế đông, quây lấy các chiến sỹ ta để bắt sống. Nhưng các đội viên Quyết tử của Tiểu đoàn đã đứng dậy dùng cuốc xẻng và báng súng đánh giáp lá cà với địch cho đến khi hy sinh tới người cuối cùng.
Hôm đó mặc dù đã chiếm được đa phần thôn Phương Danh nhưng địch không dám ở lại mà lùi ra xa, dùng dây thép gai rải quanh làng. Cho xe tăng chốt chặn các ngõ ngách tạo vòng vây thứ 2. Ngoài cùng là vòng vây của bọn bộ binh. Chúng bắn pháo cầm canh vào thôn để không cho bộ đội ta làm công sự (chúng vẫn không biết lực lượng ta ở trong thôn còn bao nhiêu). Đèn dù pháo sáng thả dày đặc, sáng như ban ngày, có thể thấy được bất cứ di động nào trong làng. Chúng định vây chặt để sáng hôm sau quét mẻ lưới cuối cùng.
Nhưng đêm đó, Tiểu đoàn chỉ còn 7 đồng chí, do đồng chí Chúc, trợ lý tác chiến (người Thanh Hoá) đã lách khỏi 3 vòng vây của địch trở về. Tất cả các liệt sỹ đều phải nằm lại, hoá thân vào mảnh đất Phương Danh Nam đẫm máu.
Ngày hôm sau, địch vẫn tiếp tục ném bom, bắn pháo hàng tiếng đồng hồ rồi cho xe tăng dàn hàng ngang dẫn đầu bộ binh tràn vào làng. Chúng lồng lộn chạy ngang, chạy dọc chà nát tất cả. Không có một tiếng súng kháng cự nào của ta nhưng bọn lính Nam Hàn đã chứng kiến hàng trăm cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 6 hy sinh trong mọi tư thế: đầu, mình, tay, chân quấn đầy băng mà vẫn ôm chặt súng, mắt mở trừng trừng nhìn thẳng về phía trước, biểu lộ ý chí bất khuất, khiến chúng kinh sợ, vội vàng tuyên bố “Đã hoàn tất quân vụ” và nhanh chóng rút lui, giao cho địa phương quân và chính quyền sở tại giải quyết hậu chiến.
Trận Phương Danh Nam của Tiểu đoàn 6 và bộ đội huyện An Nhơn là tấm gương sáng chói về tinh thần dũng cảm và đức hy sinh cao cả của cán bộ, chiến sỹ Sư đoàn Sao Vàng nói riêng, của quân Giải phóng miền Nam nói chung. Họ đã hy sinh nhưng đã hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang mà Bộ chỉ huy Mặt trận Bình Định đặt ra là thu hút kìm chân phần lớn chủ lực địch ở cánh Nam, tạo điều kiện cho quân dân Khu Đông Bình Định tiến công và nổi dậy tại thị xã Quy Nhơn, gây tiếng vang lớn trong mùa xuân năm 1968.
Liên tục mấy ngày sau đó, bọn địch bắt tù chính trị và nhân dân quanh vùng đến gom thi hài các liệt sỹ ta, mai táng chung một ngôi mộ tại làng Phương Danh Nam. Với lòng kính trọng và biết ơn, nhân dân ta, từ già đến trẻ, đã gọi đó là Mộ Tổ. Hễ có dịp đi qua, bất kỳ lúc nào cũng tìm cách đắp một hòn đất, hòn đá, thắp một cây nhang để bày tỏ tấm lòng mình. Những gia đình có người tham gia nguỵ quân, nguỵ quyền cũng không bỏ qua tục lệ đó.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Định và huyện An Nhơn đã cho xây lại ngôi mộ, xây dựng bia, khắc tên 153 liệt sỹ đã ngã xuống trong trận huyết chiến ở thôn Phương Danh Nam. Vào ngày rằm và mồng một hàng tháng, bà con thường đến thắp hương. Riêng ngày 24 tháng 1 và rằm tháng 7 hàng năm được đồng bào xem là ngày giỗ các liệt sỹ. Hương hoa, lễ vật tuỳ tâm, bà con kính cẩn đặt lên Bia tưởng niệm để tri ân hương hồn những liệt sỹ trận vong. Đó là một nét đẹp trong văn hoá tâm linh, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với thế hệ trẻ ở huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định hôm nay và mai sau.


