Trần Khát Chân - Danh tướng tiêu biểu của cuối thời nhà Trần
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, Thanh Hóa luôn được nhắc đến như một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi núi sông hội tụ linh khí, hun đúc nên khí phách và bản lĩnh con người. Mảnh đất xứ Thanh không chỉ nổi tiếng bởi bề dày văn hóa, truyền thống hiếu học, mà còn bởi đã sản sinh ra nhiều bậc anh hùng hào kiệt, những con người đã góp phần quan trọng vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ Bà Triệu oai hùng với lời thề vang vọng non sông, đến Lê Hoàn, Lê Lợi – những vị an

Trong dòng chảy hào hùng ấy, Trần Khát Chân nổi lên như một danh tướng tiêu biểu của cuối thời nhà Trần. Ông sinh vào nửa sau thế kỷ XIV, trong bối cảnh triều Trần đã bước qua thời kỳ hưng thịnh và đang dần rơi vào suy yếu. Do hạn chế của tư liệu lịch sử, năm sinh cụ thể của Trần Khát Chân không được sử sách ghi chép rõ ràng, song điều đó không làm phai mờ những dấu ấn lớn lao mà ông để lại trong lịch sử dân tộc.
Trân Khát Chân quê ở làng Hà Lãng, huyện Vĩnh Ninh, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đây là vùng đất giàu truyền thống yêu nước, nơi con người sớm thấm nhuần tinh thần trách nhiệm với non sông, đất nước. Chính quê hương ấy đã góp phần hình thành nên ở Trần Khát Chân một nhân cách lớn: trung nghĩa, quả cảm và luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết.
Lớn lên trong thời đại nhiều biến động, khi đất nước liên tiếp phải đối mặt với những mối đe dọa từ bên ngoài và sự suy yếu từ bên trong triều đình, Trần Khát Chân sớm bộc lộ tài năng quân sự và ý chí kiên cường. Ông trở thành một trong những trụ cột của triều Trần trong giai đoạn cuối, gánh trên vai trọng trách bảo vệ bờ cõi sự tồn vong của vương triều.
Ông sinh năm 1370 (Canh Tuất). Ngay từ nhỏ, ông đã là người ham học. 18 tuổi, chàng trai Trần Khát Chân đã có tiếng là văn võ song toàn. Năm 1388 (năm Mậu Thìn), ông thi đỗ Thái học sinh; sau đó được triều đình trọng dụng phong làm tướng quân chỉ huy đội quân Long Ti
Trần Khát Chân là thời kỳ triều Trần bắt đầu suy vi. Những cuộc chiến tranh liên miên, khốc liệt đối với các lân bang, đặc biệt là Chiêm Thành đã làm cho tiềm lực quốc gia suy kiệt. Các vua cuối triều Trần đều không giỏi và thường bị quần thần lấn át. Lúc bấy giờ Chiêm Thành đang hưng thịnh. Vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga nhiều phen đem quân ra cướp phá, tỏ vẻ coi thường vua Trần. Vào các năm 1371, 1377, 1378, Chế Bồng Nga kéo quân vào xâm chiếm và thiêu rụi cả kinh thành Thăng Long, vua tôi nhà Trần không sao chống trả lại. Quân Chiêm Thành vào kinh thành bắt đàn bà con gái, cướp vàng bạc châu báu rồi rút quân về. Thời điểm đó, hễ tướng nào của nhà Trần ra trận thì hầu như thất bại.
Tháng 10, năm 1389 (năm Kỷ Tỵ), quân Chiêm lại kéo quân sang đánh nước ta một lần nữa. Lần này, đích thân Chế Bồng Nga chỉ huy. Quân Chiêm Thành đến đánh chiếm Thanh Hóa, đánh vào hương Cổ Vô, vua Thuận Tông sai Hồ Quý Ly đem quân chống giữ. Quân Chiêm Thành đắp ngăn dòng sông ở thượng lưu. Quan quân nhà Trần đóng nhiều cọc để đối địch. Giặc cho quân và voi mai phục, giả bỏ trại mà về. Quý Ly chọn những quân tinh khỏe gọi là quân cảm tử, đuổi theo để đánh; quân thủy nhổ cọc ra đánh. Biết quân nhà Trần bị mắc mưu, lúc này giặc Chiêm bèn phá đập chắn nước rồi cho voi xông ra. Quân ta trận đó thiệt hại lớn; nhiều tướng bị giặc bắt. Khi đó Hồ Quý Ly về kinh thành xin vua cho thêm thuyền ra tiếp ứng, nhưng vua không đồng ý. Hồ Quý Ly xin từ chức không đi đánh nữa. Hai tướng Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương cũng không cầm cự nổi với giặc. Quân Chiêm Thành thừa thắng tiến ra Bắc, đóng quân trên sông Hoàng Giang (nay thuộc Hà Nam). Kinh thành Thăng Long lại rơi vào thế hỗn loạn, nhiều người bỏ đi lánh nạn.
Trong tình thế nguy cấp đó, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bèn sai tướng Trần Khát Chân, lúc đó chỉ là một võ tướng cấp thấp chỉ huy đội quân Long Tiệp đi đánh giặc. Trần Khát Chân khẳng khái vâng mệnh vua ra trận. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông đã khóc khi tiễn đưa tướng Trần Khát Chân. Quân ta xuất phát từ sông Hồng, đi đến Hoàng Giang( Hà Nam) thì gặp giặc. Trần Khát Chân quan sát thấy địa hình ở đó khó tổ chức đánh trả, bèn lui quân về giữ Hải Triều (thuộc sông Luộc chảy qua Phủ Cừ- Hưng Yên và Hưng Hà- Thái Bình). Lúc đó, Trần Nguyên Diệu, em của Phế đế Trần Hiện đem bè lũ đầu đảng chạy theo quân Chiêm với ý định báo thù Nghệ Tông và Hồ Quý Ly đã giết chết anh trai. Tháng giêng năm Canh Ngọ (1390), Chế Bồng Nga cùng với Nguyên Diệu đem hơn 100 chiến thuyến tiến vào Hải Triều dò xét tình hình quân ta để định đánh lớn. Lúc bấy giờ có tên Ba Lậu Kế, một tiểu thần của Chế Bồng Nga vừa bị quở phạt, sơ chết, y trốn sang quân Trần. Chính y đã tiết lộ cho Trần Khát Chân biết đặc điểm chiến thuyền của Chế Bồng Nga (màu xanh lục). Biết được điều đó, Trần Khát Chân mừng lắm, bèn cho tập trung hỏa lực bắn thẳng vào thuyền của Chế Bồng Nga. Chế Bồng Nga trúng đạn chết tại trận. Quan quân nhà Chiêm bị mất chỉ huy như rắn không đầu, bị đánh cho chạy tán loạn. Trần Khát Chân sai chặt đầu của Chế Bồng Nga bỏ vào hòm chở về bến Bình Than, nơi Thượng Hoàng đóng quân báo tin. Lúc bấy giờ mới là canh ba, Thượng Hoàng còn đang ngủ. Bị đánh thức dậy, tưởng là quân giặc đánh tới nơi, nhưng khi nhận tin báo quân ta đem thủ cấp Chế Bồng Nga về nộp báo tin thắng trận thì mừng rỡ, liền thiết triều, cho mời quần thần đến xem.
Tướng Chiêm Thành La Ngai đem tàn quân chạy về nước chiếm ngôi vua. Hai con trai của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Nô sợ bị giết đã chạy sang xin hàng vua Trần.
Chiến thắng của tướng Trần Khát Chân đã khiến cho quân Chiêm Thành phải ngưng các cuộc tấn công vào Đại Việt. Tướng Trần Khát Chân được vua phong là Long Tiệp Phụng Thần Nội vệ Thượng tướng quân, tước Vũ Tiết Quan Nội hầu.
Thật tiếc là sau này vào thời suy vi của nhà Trần, ông đã bị Hồ Quý Ly sát hại cùng với 370 quan quân khác của nhà Trần trong một trận chiến. Ông mất khi mới 29 tuổi. Sau khi ông mất, tưởng nhớ công lao của ông đối với dân, với nước; nhân dân đã lập đền thờ ông ở làng Phương Nhai và sườn núi Đốn. Tại Kinh đô Thăng Long, nhân dân vùng Kẻ Mơ cũng lập đền thờ ông.
Ngày nay tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đều có đường phố mang tên ông để ghi nhớ công lao to lớn của vị danh tướng cuối đời Trần.
Kết lại, cuộc đời và sự nghiệp của Trần Khát Chân là một trang sử ngắn ngủi nhưng vô cùng rực rỡ trong lịch sử dân tộc. Sinh ra trong buổi giao thời đầy biến động của triều Trần, ông đã dùng tài năng, trí tuệ và lòng trung nghĩa để gánh vác vận mệnh đất nước, lập nên chiến công hiển hách khi tiêu diệt Chế Bồng Nga, chấm dứt mối họa lớn từ Chiêm Thành đối với Đại Việt. Dù ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ và chịu kết cục bi thương trong cơn suy vong của vương triều, Trần Khát Chân vẫn mãi được lịch sử và nhân dân ghi nhớ như biểu tượng của lòng yêu nước, ý chíkiên cường và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì non sông. Tên tuổi ông không chỉ sống trong sử sách mà còn in đậm trong tâm thức dân tộc, trở thành niềm tự hào của quê hương Thanh Hóa và là tấm gương sáng cho các thế hệ mai sau noi theo.



