Trận không chiến nảy lửa giữa phi công Nguyễn Văn Bảy và không quân Mỹ
Trận đấu không cân sức giữa “David và Goliath”
Trong số 16 phi công của Không quân Nhân dân Việt Nam đạt đẳng cấp Ace, chỉ có 3 người (gồm ông Bảy và ông Chao) là lái tiêm kích MiG-17, 13 người còn lại lái máy bay MiG-21 hiện đại hơn. MiG-21 được trang bị radar và tên lửa tầm nhiệt và được coi là ngang cơ với F-4 và F-8 về độ cơ động và khả năng bứt tốc. Trong khi đó, MiG-17 cổ lỗ của thập niên 1950 khó kiểm soát khi xoay quanh trục dọc và trục ngang ở tốc độ cao, lại không được trang bị cả radar lẫn tên lửa. MiG-17 chỉ được trang bị 1 pháo 37mm và 2 pháo 23mm. Kính ngắm của tiêm kích này cũng không có radar tính khoảng cách nên ông Bảy phải dựa vào đạn vạch đường để điều chỉnh đường ngắm. Ưu điểm của MiG-17 là khả năng quan sát tốt và tốc độ rẽ cực lớn nhưng máy bay này lại bị áp đảo về số lượng trước các phi cơ hiện đại hơn của Mỹ là Phantom, Crusader và Thunderchief.
Cuộc chiến trên không của Mỹ ở Việt Nam kéo dài từ năm 1965 đến 1973. Đối với một phi công MiG, bản thân việc sống sót trong gần 8 năm chiến tranh này đã là một kỳ tích, chưa nói đến chuyện bắn hạ hơn 5 máy bay đối phương để trở thành phi công ace.
Trận giao chiến đầu tiên của ông Bảy là vào ngày 6/10/1965. Ông bị một chiếc F-4 tấn công, chiếc này gần như chắc chắn là do phi công hải quân Mỹ Dan McIntyre lái. Tổ lái của chiếc F-4 đã phóng một tên lửa AIM-7D về phía MiG-17. Trong khi đó, ông Bảy nhớ một tên lửa nổ phía bên ngoài cánh bên trái của máy bay ông. “Tôi cảm nhận được sức nóng từ vụ nổ... Máy bay chúi xuống và bắt đầu rung”.
Nguyễn Văn Bảy lập tức ngoành máy bay về phía sân bay Nội Bài và cố gắng hạ cánh an toàn. Trên mặt đất, ông đếm được 82 lỗ thủng trên máy bay.
Ông Bảy nhớ lại: “Tôi cảm giác như mình là một võ sĩ quyền Anh hạng nhẹ cố gắng đấu với một võ sĩ hạng nặng. Chúng tôi bị áp đảo về số lượng, một chọi với 4 hoặc 5. Suy nghĩ của chúng tôi là phải cố gắng sống sót”.
Áp dụng lối đánh hiểm để khắc chế đối phương
“Tiêm kích Mỹ bay nhanh hơn chúng tôi”, ông Bảy nói. “Chúng tôi phải buộc chúng thực hiện động tác rẽ. Khi rẽ như vậy, tốc độ không còn là lợi thế của họ nữa. Chúng tôi có thể thay đổi tâm của vòng tròn và bay tắt qua đường kính để đuổi kịp đối phương. Chúng tôi chỉ cần sử dụng góc phù hợp để cắt qua đường bay vòng của họ và khi ấy pháo của chúng tôi phát huy hiệu quả”.
Pháo của ông Bảy đã phát huy hiệu quả lần đầu tiên vào cuối tháng 4/1966. Khi mạng radar phát hiện máy bay Mỹ đang tiến đến các khu vực Bac Son và Dinh Ca, một sĩ quan chỉ huy đã lệnh cho 4 phi cơ MiG-17 cất cánh để nghênh chiến, các phi cơ này do các phi công Bảy, Chao, Trần Triêm và Hồ Văn Quỳ lái.
Ngay sau khi cất cánh, ông Bảy phát hiện 8 chiếc F-4. Một chiếc F-4 bay tản rộng ra khi đội hình này thực hiện rẽ. Nguyễn Văn Bảy cắt qua đường bay của chiếc F-4 và bay sát vào cự ly bắn. Ông Bảy nhớ lại: “Khi toàn thân chiếc F-4 đó đã choán chiếm kính chắn gió của tôi, tôi khai hỏa, và chiếc F-4 rụng xuống”.


