TRẬN KHÔNG CHIẾN NHỬ MỒI
Đoạn nội dung tái hiện trận phục kích xuất sắc của Trung đoàn Không quân 923 trên bầu trời Hải Phòng ngày 19/11/1967, khi biên đội MiG-17 xuất kích từ sân bay Kiến An đánh chặn đội hình F-4 và A-4 của không quân – hải quân Mỹ đang chuẩn bị tập kích thành phố cảng. Trong tình huống khẩn cấp, khi số 1 gặp sự cố vô tuyến, Lê Hải được giao dẫn đội, chủ động chiếm ưu thế độ cao, tốc độ và bất ngờ công kích. Với cách đánh táo bạo ở cự ly cực gần, anh bắn hạ một chiếc F-4, đồng thời phối hợp cùng Nguy
| Đầu tháng 11 năm 1967, Quân chủng giao nhiệm vụ cho trung đoàn không quân 923 đánh một trận phục kích ở thành phố Hải Phòng. Máy bay của ta sẽ cất cánh từ sân bay Kiến An. Những tháng 10, tháng 11 năm 1967, thành phố Hải Phòng liên tục bị địch đánh phá, phong tỏa cảng. Hàng mấy chục chiếc tàu thủy vào cảng nằm chết dí ở đó không rời bến được do thủy lôi của không quân - hải quân Mỹ rải xuống cửa cảng. Các tàu của Liên Xô, Ba Lan, của các nước xã hội chủ nghĩa chở hàng viện trợ cho Việt Nam phải nằm ở cảng đã hàng tháng trời. Ta cho xà lan ra lấy hàng cũng bị máy bay Mỹ bắn chặn, nhưng chúng nó chưa dám đánh trực tiếp vào tàu của Liên Xô và của Trung Quốc. Bộ đội cao xạ, dân quân tự vệ của ta triển khai trận địa ngay trên cầu tàu đánh máy bay địch. Các sư đoàn phòng không 363, 367 tập trung bảo vệ cảng, đánh với máy bay Mỹ hàng trăm trận, bắn rơi nhiều chiếc nhưng cũng bị tổn thất không ít; nhất là anh em pháo cao xạ "phơi" trên các đồi trọc, làm mục tiêu cho bọn lái chuyên ném bom bi, bom phá và bắn tên lửa vào các trận địa pháo phòng không, cao xạ. Sáng ngày 19 tháng 11 năm 1967, khoảng 8 giờ, biên đội chúng tôi gồm Hồ Văn Quỳ (số I), Lê Hải (số 2), Nguyễn Đình Phúc (số 3) và Nguyễn Phi Hùng (số 4) được lệnh cất cánh từ sân bay Gia Lâm xuống sân bay Kiến An, bay ở độ cao 50m, bí mật không dùng vô tuyến điện. Đến nơi, biên đội kéo dài cự ly, từng chiếc hạ cánh an toàn xuống sân bay Kiến An. Máy bay vừa nạp dầu xong, sở chỉ huy lệnh cho biên đội chuyển cấp 1; trên thông báo địch chuẩn bị vào đánh Hải Phòng. Đúng 10 giờ 40 phút, biên đội được lệnh mở máy cất cánh gấp. Ở sở chỉ huy Kiến An, đồng chí Lê Oanh trung đoàn phó chỉ huy, đồng chí Phạm Chuyên dẫn đường. Các anh đã chỉ huy chúng tôi nhiều trận nên rất hiểu nhau. Sau khi biên đội cất cánh, máy bay số 1 của anh Quỳ bị hỏng vô tuyến điện. Sở chỉ huy gọi mấy lần mà vẫn không nghe anh Quỳ trả lời? Trong khi đó các số trong biên đội đều nghe rất tốt sở chỉ huy. Tôi rất lo cho số 1 gặp khó khăn. Địch từ ngoài biển đang bay vào rất đông. Sở chỉ huy thông báo cho biên đội quyết định tôi lên làm số 1 dẫn đội. Tôi lắc cánh báo cho anh Quỳ biết và tăng ga bay vọt lên trước dẫn cả biên đội. Tôi vừa cải hướng vừa lấy tiếp độ cao lên 2500m. Bầu trời Hải Phòng có độ 3 - 4 phần mây, tầm nhìn rất tốt. Sở chỉ huy tiếp tục thông báo địch bay theo đội hình kéo dài, có 6 chiếc F-4 đi đầu, phía sau F-4 có 20 chiếc A-4 mang bom; biên đội chú ý quan sát. Tôi dẫn biên đội lấy thêm độ cao lên 3000m. Triển khai đội hình chiến đấu và bay về hướng bầu trời Đồ Sơn. Tôi thông báo đã phát hiện địch, xin phép sở chỉ huy cho đánh! Sau khi nhận được lệnh đánh, tôi dõng dạc lệnh cho số 3 và số 4 chặn đánh tốp địch bay sau cùng, tôi và anh Quỳ đánh tốp bay đầu tiên. Biên đội vứt thùng dầu phụ, tăng lực. Lúc này máy bay của tôi đã đạt tốc độ 850km/giờ, đội cao gần bằng độ cao máy bay địch. Vừa nhìn thấy máy bay MIG, biên đội F-4 đầu tiên vội vòng bay ra biển. Lợi dụng lúc thằng F-4 ép độ nghiêng, vòng ra biển, tôi nghĩ, nếu cứ cắt bán kính, vòng ngay vào bên trong để rút ngắn cự ly công kích, như cách đánh thông thường, địch sẽ phát hiện ta sớm và cơ động mất. Tốc độ máy bay tôi đã lớn, địch lại vừa mới tăng lực chưa có ngay tốc độ lớn. Máy bay F-4 có nhược điểm khi tăng lực, muốn tăng tốc độ phải chờ gần 30 giây sau; máy bay phải bay bằng hoặc cơ động nhỏ thì mới đạt tốc độ lớn. Đằng này, địch bất ngờ gặp biên đội tôi, phải vừa vòng, vừa tăng lực, đó là thất thế to của F-4. Tôi quyết định tấn công tốp F-4 đi đầu. Tôi tiếp cận đến cự ly nổ súng bằng cách chúi dưới bụng máy bay địch ở phía dưới. Bị cánh chiếc F-4 che khuấttầm quan sát, nên tên địch không nhìn thấy tôi. Tôi thấy chiếc F-4 giảm độ nghiêng, lật trái, lật phải quan sát ý chừng nó vừa thấy chiếc MIG-17 đây, lại đâu mất rồi. Đến cự ly độ 400m, tôi nhìn rất rõ chiếc F-4, thấy luồng khói tăng lực đen sì phun ra từ đít nó. Tôi nhẩm trong miệng: Cự ly bắn được rồi. Tay lái khẽ nhích đầu máy bay ngóc lên đạt điểm ngắm lên giữa chiếc F-4 và bắn liền một loạt ngắn, đạn vạch đường thẳng băng, nhưng rất tiếc là đạn rơi sau đuôi chiếc F-4. Tôi liền kéo cần lái nâng lượng đón và bắn một loạt dài. Trúng rồi! Đạn vạch đường chùm lên lưng chiếc F-4. Nó xì khói đen trên lưng; tôi bắn thêm một loạt ngắn nữa, tất cả đạn trùm lên thân, lên cánh nó. Tôi thấy chiếc F-4 như dừng lại có lẽ động cơ bị hỏng rồi. Máy bay tôi tiếp cận đến rất nhanh, tôi nhìn rõ chữ USA trên cánh và quân hiệu không quân hải quân Mỹ, ngôi sao trắng trên cánh chiếc F-4B. Trúng 2 loạt đạn, nhưng nó vẫn chưa bùng cháy. Máy bay tôi tiếp cận đến chiếc F-4 còn khoảng150m nữa là hai máy bay có thể đâm vào nhau, nó vẫn còn bay. Tôi bắn loạt cuối ở cự ly chỉ độ 30 - 40m . Tất cả đạn đều xuyên vào chiếc F-4 và không một viên nào nổ (vì để bảo đảm an toàn cho phi công và máy bay MIG-17 khi phải bắn mục tiêu ở cự ly quá gần hơn 50m , thì người ta chế tạo đạn pháo 371y, 231y lắp trên máy bay thành đạn xuyên). Quá gần rồi, tôi chỉ còn kịp đẩy cần lái về trước chui qua bụng chiếc F-4, khói phủ đen buồng lái máy bay tôi. Chiếc F-4 giống như một cột khói đen ngòm, hai bánh lái đuôi của nó giống như hai tấm phản vút qua đầu tôi Trong tích tắc ấy, thân chiếc F-4 che khuất buồng lái máy bay của tôi, tựa như xuyên qua đám mây đen vậy. Sau khi thoát qua, tôi cứ đinh ninh, đuôi máy bay tôi chắc bị đứt rồi. Một giây bần thần, khá nguy hiểm, tôi đạp thử bàn đạp, máy bay nghe theo sự điều khiển dễ dàng. Duyên trời, cho thoát rồi, tôi liền cơ động máy bay quan sát tìm anh Quỳ. Anh Quỳ đang bay sau tôi. Tuy rằng anh Quỳ không bay số 1 dẫn đầu biên đội, do máy bay của anh hỏng vô tuyến, nhưng có anh trong đội hình biên đội, anh em chúng tôi rất vững tâm, tả xung, hữu đột chiến đấu với địch. Anh Quỳ là một trong bốn phi công lần đầu tiên mở mặt trận trên không thắng lợi, ngày 3 tháng 4 năm 1965 trên bầu trời Thanh Hóa. |


