Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRẬN MỞ ĐẦU CỦA SƯ ĐOÀN SAO VÀNG Ở NÚI BÀ, KHU ĐÔNG

Đoạn kể về việc Trung đoàn 12 (Sư đoàn Sao Vàng) được điều xuống chiến trường Khu Đông Bình Định để chuẩn bị cho chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 tại Quy Nhơn. Dù gặp nhiều khó khăn khi tác chiến ở vùng đồng bằng bị địch kiểm soát gắt gao, trung đoàn vẫn tổ chức các trận đánh mở đầu tại Gò Trạm và Đập Đá, tiêu diệt nhiều sinh lực địch và gây hoang mang cho quân nguỵ. Những chiến thắng ban đầu này đã khẳng định vị thế của Trung đoàn trên chiến trường mới và tạo tiền đề cho các trận chiến tiếp theo.

09/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mặt trận Quy Nhơn là trọng điểm của chiến dịch Xuân Mậu Thân (1968) ở chiến trường Bình Định. Đồng chí Nguyễn Xuân Hữu, Thường vụ Khu uỷ 5 xuống chỉ đạo trực tiếp. Ban chỉ đạo chiến dịch quyết định điều Trung đoàn 12 (Sư đoàn Sao Vàng) tăng cường cho chiến trường Khu Đông. Nhiệm vụ trước mắt của Trung đoàn là đánh địch dọc Quốc lộ I- đoạn phía Bắc thị xã Quy Nhơn, thu hút chủ lực nguỵ và quân Nam Hàn (Nam Triều Tiên) cho lực lượng tỉnh mở hành lang, làm bàn đạp tiến công vào nội thị. Sau đó, tuỳ tình hình, Trung đoàn sẽ là một mũi tiến công quan trọng vào Quy Nhơn.

Là Trung đoàn chủ lực trong đội hình Sư đoàn, thường đứng chân các dãy núi phía Tây của tỉnh Bình Định, nay phải xuống vùng sâu, địa bàn đồng bằng, tác chiến độc lập, cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 12 không khỏi bỡ ngỡ. Nơi đây, qua 2 mùa khô, quân Nam Triều Tiên (ta thường gọi là Nam Hàn hoặc Đại Hàn) đã thực hiện chính sách đốt sạch, phá sạch, tàn sát hàng ngàn dân vô tội, biến vùng đồng bằng trù phú, đông đúc dân cư trở thành vùng trắng, cây cỏ hoang tàn. Hàng ngày, máy bay do thám các loại của địch quần lượn chỉ điểm. Hễ phát hiện bóng người là gọi bom, pháo dội tới và đổ quân bao vây bắt sống. Đường vận chuyển vũ khí từ phía Tây xuống bị địch dùng rào kẽm gai hoặc bãi mìn và quân phục kích ngăn chặn. Một con vật hoang đi qua cũng bị tiêu diệt. Lực lượng của ta hoạt động ở đây không chỉ chịu đựng ác liệt, hy sinh mà còn thiếu thốn mọi bề. Đó là những khó khăn mà Trung đoàn 12 phải vượt qua.

Để vào được Khu Đông, Trung đoàn đã phải dùng trinh sát, công binh mở đường qua các bãi mìn bố phòng của địch. Chỉ một lối nhỏ đủ một người đi. Bước lệch ra ngoài là giẫm phải mìn địch. Đi từng phân đội, đi làm nhiều đêm, nhiều đợt, không được để lại dấu vết vì ban ngày địch đi kiểm tra.

Cuối tháng 11 năm 1967, Trung đoàn vào tới núi Bà. Đó là một dãy núi lớn ở phía Đông đường số 1, sát biển Đông, thuộc địa phận huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Từ lâu, núi Bà là căn cứ của chiến trường Khu Đông gồm nam Phù Cát, đông An Nhơn và bắc thị xã Quy Nhơn. Vừa đến nơi dừng chân, Trung đoàn đã quyết định chọn 2 mục tiêu: Gò Trạm và thị trấn Đập Đá. Đánh 2 mục tiêu này nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, tạo khí thế và niềm tin cho đơn vị, thăm dò sự phản ứng của địch ở chiến trường mới, rút kinh nghiệm cho các trận tới. Trung đoàn giao cho Tiểu đoàn 6 chuẩn bị mục tiêu Gò Trạm, Tiểu đoàn 5 chuẩn bị mục tiêu Đập Đá.

Là cán bộ chỉ huy bộ đội tỉnh nhiều năm, lại là thành viên Ban chỉ đạo Mặt trận Quy Nhơn, tôi được phân công giúp đỡ Trung đoàn chuẩn bị chiến trường đánh thắng trận đầu. Gò Trạm nằm phía Nam quận lỵ Phù Cát hơn 1km. Địch xây dựng tại đây một trung tâm huấn luyện Hạ sỹ quan cho Vùng Chiến thuật II (Vùng Chiến thuật tương đương như Quân khu). Diện tích căn cứ gần 10 ha. Học viên có lúc đến hàng ngàn tên. Hệ thống phòng thủ kiên cố, có 1 trận địa pháo 105 ly 4 khẩu, do 1 tiểu đoàn bảo vệ. Thị trấn Đập Đá nằm sát Quốc lộ 1, có 2 Trung đội dân vệ và bọn chính quyền quận khét tiếng phản động, kìm kẹp nhân dân khắc nghiệt.

Cả 2 mục tiêu trên từ lâu chưa bị ta đánh nên rất chủ quan, hống hách.

Phương án đánh Gò Trạm, Trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Hồng xác định: Căn cứ rộng, quân địch đông nhưng ô hợp. Ta tổ chức đánh 2 mũi từ hướng Đông Nam (hướng địch sơ hở) tiêu diệt bọn học viên. Còn lại dùng hoả lực DKZ, cối 82 đánh vào Sở chỉ huy và trận địa pháo. Đánh nhanh, rút nhanh, qua sông Chánh Mẫn về đứng chân ở xã Nhơn Phong (nam Phù Cát). Tại Đập Đá, địch luôn di động, dân đông, do đó phải nhờ cơ sở địa phương dẫn đường, tổ chức 2 mũi, bí mật rê quân gặp địch ở đâu, tác chiến tại đó. Ai gặp địch trước đánh trước, không phải chờ nhau. Đánh xong rút về nơi quy định. Mật danh Gò Trạm là 01, Đập Đá là 02.

Đêm 4 tháng 12 năm 1967, từ vị trí tập kết, các đơn vị xuất quân. 23 giờ, Sở chỉ huy Trung đoàn nhận báo cáo “01 đã đến vị trí tạm dừng. Tình hình thuận lợi, đang làm công tác tổ chức”. Anh Hồng, Trung đoàn trưởng nhắc 01: “Phải nổ súng đúng giờ G”, 02 báo cáo: “Đã vào tới ngoại vi thị trấn. Cơ sở cho biết, địch đang tập trung tại trụ sở”. Anh Hồng chỉ thị cho 02 “Phải sau giờ G+1 mới nổ súng, không được nổ súng trước 01”.

Đúng giờ G (01 giờ ngày 05 tháng 12 năm 1967), ta tiến công Gò Trạm. Cối 82, ĐKZ 75 và các hoả lực đi cùng bộ binh của ta nổ dồn dập. Bọn địch hoảng loạn kêu la. Ở Đập Đá, các chiến sỹ Tiểu đoàn 5 nổ súng giòn giã. Các trận đánh chỉ diễn ra khoảng nửa tiếng đồng hồ. Ta chủ động lui quân, địch chưa kịp hoàn hồn thì bộ đội đã biến mất. Sáng hôm sau, cơ sở 2 nơi báo cáo: Tại Gò Trạm, địch thiệt hại 150 tên. Bọn học viên hoang mang, một số tên đào ngũ hoặc bỏ về đơn vị, không theo học nữa. Ở Đập Đá, 2 Trung đội dân vệ bị thiệt hại nặng, ta bắt một số tên, giao cho địa phương.

Cùng đêm đó, Đại đội vũ trang huyện Phù Cát đánh tan 2 Trung đội dân vệ ở Nam quận lỵ, phối hợp với Gò Trạm.

Ba trận đánh đều thắng lợi. Ta thương vong không đáng kể. Mọi người phấn khởi, nhân dân lan truyền tin tức: Bộ đội chủ lực đã về vùng Đông. Nguỵ quân, nguỵ quyền lo sợ. Trung đoàn 12 đã khẳng định được vai trò của mình trên địa bàn mới. Nhưng những thử thách mới đang chờ họ ở phía trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn