Trận Mộc Hóa, trận La Bang
Trận Mộc Hóa, trận La Bang
Sau lễ xuất quân, ông Sáu Trọng cùng đồng đội vượt sông Hàm Luông, sông Tiền về vùng ĐTM chuẩn bị cho trận đánh “khai trương”. Lúc ấy, huyện Mộc Hóa (tỉnh Long An) có vị trí chiến lược vì là trung tâm vùng ĐTM, nối liền với chiến trường Campuchia chống kẻ thù chung, là hành lang kết nối với Khu 7 và Khu 9. Nếu làm chủ Mộc Hóa, căn cứ ĐTM (nơi đặt căn cứ của Xứ ủy, Bộ Tư lệnh Nam bộ, Khu 8) sẽ vững mạnh lên nhiều, làm thay đổi cục diện chiến trường. Nhiệm vụ nặng nề và vinh quang đó được giao cho Tiểu đoàn 307 (làm chủ công) phối hợp với một số đơn vị bạn. Chính anh trinh sát Sáu Trọng đã vượt qua mấy lớp kẽm gai vào tận đồn Mộc Hóa vẽ sơ đồ cho trận đánh. Sau 2 ngày nổ súng tấn công đồn Mộc Hóa, ngày 18/8/1948 Tiểu đoàn 307 chiếm được đồn, tiêu diệt tiểu đoàn địch với khoảng 300 quân, bắt 6 tù binh, thu trên 300 súng, trong đó có cối 60 ly, trung liên, đại liên, là “hàng hiếm” thời bấy giờ. Huyện Mộc Hóa hoàn toàn giải phóng, căn cứ ĐTM được mở rộng, nối thông với Khu 7 và Khu 9, kết nối chiến trường Việt Nam và Campuchia. Với chiến thắng trận Mộc Hóa, Tiểu đoàn 307 đã có bước khởi đầu rất ấn tượng, tạo đà cho Tiểu đoàn 307 anh hùng lẫy lừng về sau.
Sau trận đánh Mộc Hóa, uy danh của Tiểu đoàn 307 nổi như cồn, phía đối phương nghe tới phải khiếp sợ. Từ lợi thế đó, Tiểu đoàn 307 đã dễ dàng trong những trận đánh nhỏ cấp trung, đại đội. Thử thách lớn tiếp theo là trận La Bang ở Trà Vinh. Lúc đó Pháp tăng cường bình định ở vùng có nhiều đồng bào Khmer ở Trà Vinh, Tiểu đoàn 307 nhận nhiệm vụ phá tan chương trình bình định của đối phương và đồn La Bang được chọn làm nơi “so găng”. Cũng giống như trận Mộc Hóa, Tiểu đoàn 307 đã kết thúc trận La Bang một cách chóng vánh, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắt sống nhiều tù binh Âu - Phi, trong đó có 7 sĩ quan chỉ huy.
Ông Sáu Trọng nhẩm tính, từ ngày xuất quân cho tới khi kết thúc cuộc chiến chống Pháp, Tiểu đoàn 307 đã chiến đấu trên 110 trận lớn nhỏ. Trong đó có 3 trận đánh nổi tiếng là: trận Mộc Hóa ở Long An, trận La Bang ở Trà Vinh và trận Tháp Mười ở Đồng Tháp. Sau những trận thắng vang dội, lãnh đạo Khu 8 đã phát động trong văn nghệ sĩ sáng tác về Tiểu đoàn 307. Nhà thơ Nguyễn Bính đã hưởng ứng với bài thơ “Tiểu đoàn 307”, được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, đã nhanh chóng nổi tiếng, phổ biến khắp cả nước cho đến ngày nay.
Hiệp định Giơ–ne–vơ được ký kết, chàng thanh niên mới 22 tuổi đời mà đã có 8 tuổi quân Ngô Thận Trọng đã xuống tàu đậu ở cửa biển Sông Đốc (Cà Mau) cùng đồng đội lên đường đi “tập kết”. Trên đất Bắc, ông đã học bổ túc hết bậc trung học. Năm 1960, ông cùng nhiều đồng đội khẩn thiết xin trở về Nam chiến đấu giải phóng quê hương, nhưng cuối cùng không được đi. Không về Nam chiến đấu được, ông thi vào Đại học Bách khoa. Ra trường, ông về công tác ở Bộ Thủy lợi và lập gia đình với cô bạn “đồng môn” thời học đại học. Đầu năm 1975, ông được điều sang Ban Thống nhất Trung ương, vượt Trường Sơn về Nam bằng cách tự lái chiếc xe UOat. Trưa ngày 30/4/1975, ông lái chiếc UOat theo Quốc lộ 13 từ Lộc Ninh về tiếp quản Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng.


