TRẬN NAKHẢ (Tại chùa Nakhả)
TRẬN NAKHẢ (Tại chùa Nakhả)
Tỉnh Vientiane có dân số lớn nhất trong các tỉnh, thành phố của nước Lào và cũng là một tỉnh có số Việt kiều nhiều nhất. Trong khoảng một vạn rưỡi Việt kiều thì thành phố Vientiane có đến gần một vạn người. Việt kiều ở Lào có đủ người Trung, Nam, Bắc. Nhưng ở Vientiane nhiều nhất là người Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Bà con sống tập trung gần nhau thành từng khu vực, từng làng. Chủ yếu sống bằng nghề may mặc, đóng giày, dép, trồng rau. Còn ở các bản, làng xa thành phố thì phần nhiều bà con làm ruộng rẫy. Ngoài ra, còn có nhiều người làm việc ở các công sở Lào và quân đội khố xanh, khố đỏ. Mối quan hệ giữa Việt kiều với nhân dân Lào rất mật thiết, gắn bó giúp đỡ và bảo vệ nhau. Con cháu Việt kiều và Lào đều học chung trường học.
Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã thành công ở Hà Nội. Tin đó nhanh chóng truyền đến Vientiane và các tỉnh ở Lào. Lực lượng vũ trang Itxala Lào và bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane đã huy động gần 10.000 người Lào và Việt kiều nổi dậy giành chính quyền. Cuộc mít tinh được tổ chức tại Chợ Mới ngày 23-8-1945 với khẩu hiệu: “Nước Lào độc lập muôn năm”, “Hoan hô Việt Nam độc lập”. Tên tỉnh trưởng Vientiane phải bó tay trước sức mạnh khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Đến ngày 12-10-1945, chính phủ lâm thời Itxala được thành lập ở Vientiane. Một cuộc mít tinh lớn chưa từng có của trên 15.000 đồng bào tỉnh Vientiane với khí thế hào hùng, vô cùng phấn khởi. Sân vận động đặc người và cờ Mặt trận Lào Itxala (lá quốc kỳ của nước Lào độc lập từ đó tới nay) và cờ đỏ sao vàng của Việt Nam. Nhiều băng khẩu hiệu: “Nước Lào độc lập muôn năm”. “Hoan hô Việt Nam độc lập”, “Hoàng thân Xuphanuvông muôn năm”. Hôm ấy, Chủ tịch Xuphanuvông đọc lời tuyên bố độc lập và kêu gọi nhân dân Lào - Việt đoàn kết một lòng quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng. Tiếp theo, cuộc diễu hành của quân đội Itxala, tiểu đoàn Việt kiều giải phóng quân và lực lượng bán vũ trang của các trung đội tự vệ chiến đấu, của các phân hội Việt kiều cứu quốc tiến qua lễ đài.
Cách mạng thành công. Lòng người mừng vui khôn xiết. Liên tiếp trong những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1945, phong trào khởi nghĩa của nhân dân Lào lan rộng khắp cả nước. Ngày 23-8-1945, nhân dân Savanakhet nổi dậy giành chính quyền, ngày 25-8-1945 Thakhek, sau đó là Xiêngkhoảng, Sầm Nưa, Phôngxalỳ... Ngày 6-9-1945, gần 10.000 nhân dân Lào ở Savanakhet tổ chức mít tinh nồng nhiệt đón chào Hoàng thân Chủ tịch Xuphanuvông, lãnh tụ cách mạng Lào. Kể từ ngày 12 tháng 10 năm 1945, tỉnh Vientiane được đặt là Thủ đô cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Việt kiều ở Vientiane có một Chi hội Việt kiều cứu quốc. Riêng nội thành có gần 10.000 người được tổ chức thành nhiều phân hội như: Phân hội Wạt xi mường Thạt khảo, phân hội Xăng phin, phân hội Thạt Luổng, phân hội Wạt Tày, phân hội Lò Bò, phân hội làng An Nam v.v... Mỗi phân hội đều thành lập trung đội tự vệ tập trung, hầu hết là nam nữ thanh niên. Họ được trang bị vài khẩu súng trường Pháp, súng săn, lựu đạn, kiếm, giáo, mác tự rèn v.v... Bộ tư lệnh Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane liên tiếp mở 4 khóa đào tạo cán bộ chỉ huy các cấp cho lực lượng, tự vệ các phân hội.
Lực lượng quân đội Itxala Lào có một tiểu đoàn, trang bị vũ khí đầy đủ. Bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane có một tiểu đoàn với quân số 520 người, vũ khí gồm một khẩu pháo 20 ly, một khẩu đại liên 13 ly 2, và nhiều súng phóng lựu (moọc ta) của Nhật. Toàn bộ vũ khí này ta lấy từ tay của Pháp và của Nhật. Các tiểu đoàn chủ lực đều có máy vô tuyến điện. Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane lúc đầu đóng tại chiến khu Phôn Khên. Sau đó dời sang trại Mobile, gần Thạt Luổng và giữa tháng 5-1946 thì dời ra trường trung học Pavi (Collège Pavi Vientiane). Sau ngày Vientiane giành được chính quyền cho đến tháng 6 năm 1946, Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane đóng ở trại Môbin (mobile) Thạt Luổng. Tại đây có một nhà sư trẻ xin nhập ngũ để trở thành chiến sĩ. Anh Đào Mạnh Duệ đã tặng nhà sư - chiến sĩ trẻ mấy câu thơ với tựa đề:
“TẶNG NHÀ SƯ - CHIẾN SĨ”
“Cời áo cà sa cứu nước nhà
Hận thù bao nỗi quyết xông pha
Ra đi một lòng vì non nước
Cho thỏa lòng trai Tổ quốc ta”.
(Thạt Luổng - Vientiane - Lào, ngày 22-12-1945
Để bảo vệ chính quyền cách mạng và bảo vệ nhân dân, liên quân Lào - Việt đã phối hợp chặt chẽ và nhờ tin tức của nhân dân ở các bán, làng ở xa thành phố cung cấp tình hình hoạt động của quân Pháp (bỏ chạy khi quân Nhật tới) nên liên quân Lào - Việt đã tiến đánh địch nhiều trận, tiêu diệt nhiều tên, thu nhiều vũ khí, không cho địch đi khủng bố nhân dân, bắt thanh niên vào lính. Nhiều trận đánh đã diễn ra quyết liệt. Ta tấn công địch tại các căn cứ có hầm hào, dây thép gai, và gài mìn chung quanh. Ta chặn đánh các đại đội, trung đội địch hành quân khủng bố. Có trận diệt gần hết một trung đội địch.
Chỉ huy bộ đội Việt kiều giải phóng quân tỉnh Vientiane khi ấy được thành lập. Đó là tháng 9-1945. Bộ tư lệnh có năm người:
1. Vũ Hữu Bỉnh, Tư lệnh;
2. Trần Hoàn, Phó tư lệnh;
3. Đỗ Huy Rừa, Phó tư lệnh;
4. Vũ Huy Liệu, Phó tư lệnh chính trị;
5. Đào Mạnh Duệ, Phó tư lệnh chính trị.
Đơn vị có 4 đại đội, và hai trung đội trợ chiến, quân khí do các anh Nguyễn Duy Hóa, anh Đẩu, anh Thi và anh Trương Đình Nghị đại đội trưởng. Các anh đều là đội, cai khố xanh, khố đỏ của quân đội Pháp cũ.
Sau đây xin kể lại một vài trận đánh tiêu biểu:
TRẬN NAKHẢ (Tại chùa Nakhả)
Cuối tháng 3-1946 một đại đội cùng do Pháp chỉ huy đến đóng tại chùa Nakhả, cách Vientiane 15 km. Ta bí mật hành quân trong đêm, bao vây địch. Đủng 5 giờ sáng, ta nổ súng. Sau hai giờ chiến đấu, ta tiêu diệt hơn một trung đội thu được trên 40 súng các loại và chiếm lĩnh trận địa. Số địch còn lại tháo chạy tán loạn.
Những trận chủ động tiến công địch rất quyết liệt của liên quân Lào - Việt bảo vệ Vientiane trong suốt thời gian từ khi giành được chánh quyền cách mạng (23-8-1945 đến đầu tháng 6-1946), quân ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, khiến cho quân Pháp-ngụy không đến sát thành phố được, bảo vệ được bộ máy Chính phú Cách mạng Lào, nhân dân Lào và Việt kiều ở Vientiane an toàn. Trong cuộc chiến đấu thắng lợi ấy phải kể đến tài chỉ huy của anh Vũ Hữu Bỉnh, Tư lệnh Bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane, các anh Trần Hoàn, Đỗ Huy Rừa, anh Vũ Huy Liệu, Phó tư lệnh và các cán bộ Đại đội trưởng Nguyễn Duy Hóa, anh Đấu, anh Thi, anh Nghị và anh Phạm Hữu Bách, Trung đội trưởng, là những chỉ huy chiến đấu rất gan dạ, mưu trí, và ngoan cường, đã được toàn đơn vị tín nhiệm và mến phục.
Từ giữa tháng 3-1946, Bộ chỉ huy Liên quân Lào-Việt đã cho nhân dân Vientiane di chuyển sang Thái Lan. Đầu tháng 4-1946 thì nội thành Vientiane chỉ còn lại bộ đội Itxala Lào và bộ đội Việt kiều giải phóng quân Vientiane với một số trung đội tự vệ ở lại canh phòng, tuần tra, làm liên lạc, trinh sát v.v... Một cuộc bất hợp tác với giặc Pháp của nhân dân Lào và hàng vạn Việt kiều Vientiane sang Thái Lan, đã làm cho thành phố Vientiane chỉ còn “vườn không nhà trống”.
Đầu tháng 4-1946, sau khi Việt kiều giải phóng quân và bộ đội Itsala Lào rút chỉ huy sở ra ngoại ô được khoảng 10 ngày thì máy bay địch tới ném bom. Anh Vũ Hữu Bỉnh bị thương, phải đưa sang bệnh viện ở tỉnh Oudon (Thái Lan) điều trị. Lúc ấy những người còn lại như các anh Hoàn, Rừa, Liệu, Duệ chỉ huy đơn vị. Như vậy Ban chỉ huy chỉ còn 4 người. Anh em cử anh Trần Hoàn thay anh Vũ Hữu Bỉnh làm chỉ huy trưởng. Các đại đội Việt kiều giải phóng quân vẫn giữ được bí mật những nơi đóng quân và chuẩn bị chiến đấu. Tháng 6-1946, đơn vị bắt đầu một cuộc hành quân đường rừng lên hướng bắc Vientiane. Leo đèo, lội suối, mưa rừng... Chúng tôi đi dọc theo sông Mêkông, có anh em bộ đội Lào Itxala người địa phương dẫn đường. Cuộc hành quân vất vả, nhưng đến bản, làng nào cũng được nhân dân chào đón nồng nhiệt: thăm hỏi, mời ăn xôi, với món cá nghiền trộn mắm “pà đạc”. Chúng tôi nhớ mãi, nhớ mãi!
Toàn đơn vị có 520 người, hành quân đầy đủ, không ai bị ốm đau phải nghỉ lại dọc đường. Đơn vị bắt đầu rút khỏi thành phố Vientiane. Anh Vũ Huy Liệu sang Thái Lan để thăm sức khỏe anh Bỉnh và xin chỉ thị hướng hoạt động cho đơn vị. Nhưng chúng tôi không được tin tức gì của anh Bỉnh. Chúng tôi điện về Bộ chỉ huy quân khu 4, thì được trả lời: “Cần bảo toàn lực lượng, chỉ chiến đấu khi gặp địch tiến công. Đưa đơn vị lên Xiêng Khoảng và về khu 4 (Việt Nam)”. Trước tình thế khó khăn, thế nào địch ở Vientiane, Luăngprabăng và Xiêng Khoảng cũng lần theo để tấn công bộ đội ta. Chúng tôi họp lại bàn kế hoạch hành quân, chuẩn bị tinh thần cho các đại đội, sẵn sàng đánh địch trong khi hành quân và lại cử anh Đỗ Huy Rừa sang Thái Lan gặp anh Vũ Hữu Bỉnh để xin ý kiến. Nhưng sau đó một tuần lễ vẫn chưa nhận được chỉ thị nào của anh Bỉnh, hoặc của Tổng ủy Hội Việt kiều cứu quốc Thái - Lào. Chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Sau 10 ngày anh em đã đến thị trấn PakPhảng, cách Vientiane khoảng 70 km (Pak Phảng thuộc địa phận tỉnh Luang Prabăng). Khi đến Pak Phảng thì mới nhận được chỉ thị của anh Vũ Hữu Bỉnh với nội dung: Đưa toàn bộ lực lượng qua thị trấn Xiêng khan (Thái Lan). Anh Bỉnh đã cử người đến Xiêng Khan, tại bờ sông Mêkông, đối diện với Pak Phảng. Chúng tôi bàn kế hoạch bố trí phòng thủ Pak Phảng, đánh địch từ hai hướng Vientiane lên và Luang Prabăng xuống. Sau khi bố trí các kế hoạch xong, ai nấy trở về đơn vị, chuẩn bị tinh thần chiến đấu.
Trong khi ấy, chúng tôi cử anh Trần Hoàn sang Xiêng Khan thương lượng với chính quyền Xiêng Khan (Anh Trần Hoàn giỏi tiếng và chữ Lào, Thái Lan). Được nhà cầm quyền Xiêng Khan (Thái Lan) đồng ý ủng hộ, đồng thời tạo mọi điều kiện, phương tiện, xuồng, thuyền để đưa bộ đội qua sông. Công việc này được nhân dân ở Pak Phảng ủng hộ rất nhiệt tình.


