TRẦN NHÂN TÔNG - CHIẾN TRANG MÔNG NGUYÊN (BTCĐ ấp 7a1)
CHIẾN TRANH NGUYÊN - MÔNG VÀ HÀNH TRÌNH HUYỀN THOẠI CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
Tác giả: TRẦN NGUYỄN PHI YẾN – Bí thư Chi đoàn ấp 7A1
Gió thu thổi xào xạc qua những tán rừng Yên Tử. Nơi am Ngọa Vân mây phủ quanh năm, ngọn đèn dầu hắt bóng một người sĩ phụ đang ngồi kiết già tụng kinh. Người mang áo cà sa xám ấy có ánh mắt tĩnh tại như nước hồ thu. Nhưng tròn hai mươi năm trước, cũng người đàn ông ấy từng khoác chiến giáp, cưỡi ngựa xông pha giữa bão lửa chiến tranh để gánh vác vận mệnh của cả một dân tộc: Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Sinh ra là Thái tử Trần Khâm, ngay từ nhỏ ông đã mang nước da dát vàng kỳ lạ nên được gọi thân mật là Phật Kim. Dù sống trong nhung lụa ngọc ngà, tâm trí ông chưa bao giờ bị ràng buộc bởi ngai vàng hay quyền lực. Năm 16 tuổi, không chịu nổi cảnh xa hoa vô nghĩa, ông đêm khuya vượt tường thành trốn lên núi Yên Tử đi tu. Vua cha phải sai các quan đi tìm, khóc lóc thuyết phục ông mới chịu trở về. Ông hiểu rằng: Nơi triều đình cũng là một chốn tu luyện, và món nợ lớn nhất của đời ông lúc này là sông núi.
Năm 1278, ông lên ngôi Hoàng đế khi mới 21 tuổi. Bình minh quyền lực vừa hé mở thì mây đen chiến tranh từ phương Bắc đã ngùn ngụt kéo đến. Đế quốc Mông - Nguyên – thế lực tàn bạo từng đè bẹp cả châu Âu và Á – dồn nửa triệu quân tràn xuống muốn nuốt chửng Đại Việt.
Trước nguy cơ vong quốc, Trần Nhân Tông triệu tập Hội nghị Diên Hồng năm 1284. Giữa điện ngọc, vị vua trẻ ôn tồn hỏi các bô lão: "Giặc mạnh áp sát biên giới, nên hòa hay nên đánh?". Đáp lại ông là tiếng hô đồng thanh rung chuyển cả vách núi: "ĐÁNH! ĐÁNH!". Ngọn lửa yêu nước bùng cháy mãnh liệt, biến thành hai chữ "Sát Thát" khắc sâu trên tay từng người lính.
Trần Nhân Tông không ngồi chốn an toàn chỉ đạo. Ông trực tiếp xông pha tiền tuyến, cùng binh sĩ ăn cơm đao, uống máu giặc, ngủ gối trên yên ngựa qua những đêm đông rét mướt. Chiến thuật "vườn không nhà trống" cùng bản lĩnh kiên cường của ông và Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã làm nên kỳ tích. Hai cuộc chiến sinh tử (1285 và 1287–1288) khép lại bằng trận đại thắng Bạch Đằng giang cuồn cuộn máu thù, đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới.
Khi bóng giặc vừa sạch khỏi cõi bờ, triều thần dâng lên một hòm thư chứa giấy tờ của những quan lại nhát gan từng bí mật xin hàng giặc. Nhiều người đòi mang ra trừng trị. Nhưng Trần Nhân Tông sai người đem đốt sạch toàn bộ ngay trước sân triều. Ông ôn tồn bảo: "Trông thấy giặc mạnh, ai mà không sợ? Nay giặc đã tan, xóa bỏ nghi ngờ để mọi người cùng an tâm phụng sự đất nước." Lòng vị tha ấy đã hàn gắn mọi vết thương sau chiến tranh và thu phục hoàn toàn nhân tâm.
Năm 1299, giữa lúc đất nước thái bình và quyền lực ở đỉnh cao, ông nhường ngôi cho con rồi chính thức cởi bỏ áo rồng, khoác áo cà sa đi bộ lên đỉnh Yên Tử xuất gia.
Tại đây, ông sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – dòng thiền mang đậm bản sắc Việt với triết lý "Cư塵 Lạc Đạo" (Sống giữa đời vui đạo). Ông đi bộ khắp nơi khuyên dân bỏ hủ tục, thực hành mười điều thiện, đem ngọn đèn trí tuệ soi sáng tâm hồn nhân dân. Chuyến viễn du sang Chiêm Thành năm 1301 của ông còn mang về cho Đại Việt hai châu Ô và Lý qua mối duyên hòa hiếu, mở rộng bờ cõi mà không tốn một giọt máu.
Đêm mùng 1 tháng 11 năm 1308, tại am Ngọa Vân, Phật hoàng Trần Nhân Tông an nhiên tọa hóa, khép lại một đời người trọn vẹn: Rực rỡ khi giữ nước, và sâu lắng khi xây dựng hòa bình.


