TRẦN QUỐC HƯƠNG

Vì sao Diệm - Nhu biết ông là cán bộ cấp cao như vậy lại không giết ngay?
“Phải hiểu triết lý của anh em họ Ngô. Họ chống Cộng quyết liệt nhưng lại khâm phục cái phần kháng chiến của người Cộng sản, cho đó là phần quốc gia, chống ngoại xâm, yêu nước. Họ muốn dùng người sạch sẽ để cùng Quốc gia, theo đường lối Quốc gia. Vì vậy họ cố gắng cả năm trời làm việc lay chuyển và tấn công tư tưởng.” Ông đã có lần nói với Ngô Đình Nhu và đám tay chân, phân tích cho họ thấy chế độ Diệm - Nhu “không thể thoát khỏi cái thòng lọng viện trợ Mỹ”.Cứ thử so sánh với việc Mỹ dùng Lý Thừa Văn (tổng thống Hàn Quốc cùng thời với Ngô Đình Diệm). Mỹ tin Lý Thừa Văn hơn tin ông Diệm. Lý Thừa Văn được đào tạo ở Mỹ, lấy vợ Mỹ. Chứ còn ông Diệm thế nào, Mỹ biết chứ.” Những lời phân tích, đấu lý này với các cấp tay chân của Diệm - Nhu đều được báo cáo lên hết. Thời kỳ ấy, Diệm - Nhu tổ chức cả những cuộc đấu lý công khai. Người ta còn nhớ cuộc đấu trí ở Mỹ Tho do tỉnh trưởng tỉnh Nha Trang Nguyễn Văn Trân tổ chức đấu lý với đồng chí Nguyễn Văn Hiếu (lúc đó đang phụ trách công tác trí vận Thành ủy). Khi không lung lạc được ông Mười Hương, có ý kiến định đưa Nguyễn Văn Trân đấu lý với ông Mười Hương. Nhưng chính Ngô Đình Cẩn gạt đi, vì “Không được đâu. Không đủ lý lẽ để đấu với ông Hai này. Đã đấu lý lẽ cả năm không được. Để nói ông cố vấn Nhu gặp mới được”. Chính Ngô Đình Cẩn cũng nhận xét về ông Mười Hương “Cộng sản ngoan cố thì rõ rồi. Nhưng lời ông ta nói, có cái chúng ta phải suy nghĩ”.Sau này, qua lời những tên đã từng canh giữ, tra hỏi ông Mười Hương, sau giải phóng chúng đã khai trong trại cải tạo, ông Mười Hương biết rằng Diệm - Nhu không giết ông còn có một lý do nữa. Lê Văn Dư, phụ trách trại giam Tòa Khâm - Huế, khai rằng do thái độ ngoan cố của ông Mười Hương nên hắn nhiều lần đề nghị Ngô Đình Cẩn phải dùng biện pháp mạnh như tra tấn, thủ tiêu nhưng Cẩn không chấp nhận. Cẩn nói: “Phải kiên trì thuyết phục làm sao chuyển hướng được tư tưởng chứ khai hay không không thành vấn đề. Hương không khai thì người khác cũng đã khai hết, mất thời gian tính rồi. Cứ đối xử tử tế. Người giá trị thế này mới có giá để trao đổi tù binh khi cần thiết”.Ông Mười Hương ngắt ngang mạch chuyện, quay sang tâm sự thời cuộc như mong muốn người bạn ngồi nghe phải chung một nhận định nào đó. Hình như chỉ có như thế mới có thể cùng nhau ôn tiếp các sự kiện. “Chính vì sợ sự chủ quan nên tôi sợ viết hồi ký. Kể cho bạn thân nghe thì được. Thí dụ, có anh X. viết về đời một nhân vật nổi tiếng cũng ở tù. Vì là bạn thân đưa cho nhau đọc nên tha hồ nhận xét thẳng thừng. Tôi nói ngay: Viết thế này thì chắc chỉ có mình anh ở tù. Anh là vua tù, chẳng ai theo được anh. Anh có công nhận là nếu tất cả các cai tù đều răm rắp làm đúng các quy định khắc nghiệt thì tụi mình chết hết rồi không? Nó chủ ý giết mình thì mình chết. Ngô Đình Cẩn đã từng nói: chết thành đống càng gọn, đào lỗ vất tất cả xuống đấy.”Trong suốt sáu năm ở tù này (1958-1963), có tất cả 49 đứa canh gác tôi. Tất cả đều là dân Công giáo Phủ Cam (Huế), địa phương của gia đình Ngô Đình Diệm. Chỉ có hai người theo Phật giáo, một lính khố xanh của chính quyền Nam triều, một commăngđô mũ đỏ. Tôi đã nói chuyện nhiều với họ. Chuyện gì? Chuyện đối nhân xử thế ở đời, không dùng chữ chủ nghĩa xã hội hay Cộng sản, chỉ nói về một tương lai không còn bóc lột... Người lính theo Công giáo nói: Đấy cũng chính là địa đàng Chúa định cho con người nhưng con người kiêu quá nên Chúa phạt đó thôi. Họ cũng mong muốn một xã hội công bằng, bác ái nhưng động đến chữ Cộng sản là giãy nảy lên. Tất nhiên, có những anh mê muội, hung ác. Khi nhìn đánh giá kẻ thù cũng phải hiểu sâu nhiều mặt mới không dao động vì biết được bản chất của nó rồi. Chính ý này khiến tôi thích tác phẩm Viết dưới giá treo cổ của Phu-xích. Ông đā nhận xét bọn cai ngục quân SS phát xít Đức: có đứa là súc vật không còn nhân tính nhưng có kẻ nửa người nửa vật. Chính thế mới có kẻ cai ngục giữ lại cuốn sách của ông để người đời sau đọc. Kiểu tuyên truyền sơ lược không cẩn thận gây tác dụng ngược.Thí dụ như anh bạn cùng hoạt động bị bắt, bị buộc khai báo để kẻ địch dẫn đi bố trí bắt tôi trong cuộc hẹn ở Gò Vấp. Ngoài Trung ương đưa vào. Anh cũng là một cán bộ tốt, đã từng bị bắt ở Sài Gòn vẫn giữ được khí tiết. Trung ương chọn anh vào giúp chúng tôi lúc đó chuyên mảng nghiên cứu quân sự. Là một trong những người được tin cậy. Ra tập kết, anh được đề bạt làm phó chính ủy một sư đoàn. Ở trong này làm chính trị viên tỉnh đội. Một người như vậy nhưng về tư tưởng lại không được chuẩn bị tốt. Cứ nghe kiểu tuyên truyền đơn giản về miền Nam. Anh vào, thấy không đúng hoặc chưa hiểu thế nào là “phồn vinh giả tạo” nên phát sinh hoài nghi những cái đã được học. Phải nói sao cho thuyết phục và có tính chân thật, đừng sợ bị chụp mũ là ca ngợi kẻ địch. Vào chiến trường sinh tử phải nhìn chính xác mọi mặt thì mới đối phó được.Cao Dao là một nhà báo có tiếng, cũng là người của ta (chính là anh Huyến người cùng cung cấp cho ông Mười Hương tin báo Nhật sẽ đảo chính Pháp) thời gian Diệm mới được đưa về thay Bửu Lộc làm Thủ tướng, Cao Dao có nói với ông Mười Hương: “Anh ạ, Diệm trước khi về nước băn khoăn lắm, nó nói rằng chúng ta phải đấu tranh với Cộng sản. Cộng sản có ba mặt. Thứ nhất, nói gì thì nói, Cộng sản là người nắm thế chính nghĩa, không thể phủ nhận sự lãnh đạo khởi xướng cuộc chống Pháp, từ đó mới có nước Việt Nam độc lập. Thứ hai, Cộng sản có một đội ngũ rất trung thành. Giống như một đội thánh tông đồ. Đội này có hàng ngàn, vạn, chứ không chỉ mười hai vị như của Chúa. Tụi này rất trung thành, quyết liệt. Thứ ba, nó có tổ chức gắn với dân. Cho nên chúng ta chống Cộng sản phải làm sao phá nổi ba thế này thì mới thắng được, không vượt được ba cái này thì khó lắm”. Những điều này đeo đuổi ông Mười suốt về sau, giúp ông đánh giá được kẻ địch để có những đối phó chính xác.“Với cách nhìn như thế, tôi phân tích các khía cạnh của lối cai trị của anh em Ngô Đình Diệm. Sự tàn ác với nhân dân, làm tay sai thì đã rõ. Nhưng Diệm có những đặc thù. “Phải tìm hiểu thằng địch” - ông Mười nhận định - “Anh em Diệm - Nhu làm chính trị thật, muốn dân tộc theo kiểu của họ. Ngay khi tìm hiểu, phân tích, báo cáo ra bên ngoài lãnh đạo, tôi cũng lưu ý thấy Diệm có mâu thuẫn với Mỹ. Thí dụ, CIA cần tin tức, Diệm yêu cầu cứ chi tiền ra, Diệm cung cấp tin tức chứ không cung cấp cơ sở”.Vì sao tôi phải nhận xét đặc thù đó? Vì nó là những sắc thái để chúng ta có thể hiểu chính sách thâm độc của nhà họ Ngô. Anh em họ Ngô không bơ sữa, ăn chơi như đám Tâm, Hữu - những tên thủ tướng được dựng lên. Nhà Ngô đó tự hào mình là dân tộc Việt Nam, yêu nước - những biểu hiện sinh hoạt của họ không phải không có nhiều người ngưỡng mộ. Họ không ăn chơi đàng điếm mà thích ăn vặt kiểu Huế. Thích nhất món cá trầu kho dưa. Sinh hoạt kiểu Á Đông... quần áo lót tự giặt lấy, cho đó là đồ riêng, không để người khác giặt. Viên đại úy hầu cận kể lại vậy. Diệm dùng người rất chú ý kiểu Việt Nam: sử dụng những người thân tín. Viên đại úy hầu cận này tên là Bằng, con một người chạy giấy làm cho Ngô Đình Luyện em của Diệm, giám đốc Sở Đạc điền ở Đà Nẵng. Bố là người thân tín nên Diệm tuyển con vào tiếp tục hầu cận. Bằng kể buổi sáng sớm vào pha trà cho Diệm, bao giờ cũng được Diệm kêu đến cho một chén. Vì thế, Diệm cũng có nhiều người thân tín, dám xả thân. Diệm rất tự hào về gia đình, dòng dõi mình. Không tán thành Pháp, Diệm treo ấn từ quan lúc làm thượng thư Bộ Lại. Bố của Diệm là Ngô Đình Khả cũng Bộ Lại. Đến người sui gia Nguyễn Hữu Bài cũng thượng thư Bộ Lại. Diệm nói Diệm yêu nước và tự hào: “Đày vua không Khả, Đào mả không Bài” (Ngô Đình Khả - thân sinh ông Diệm không tán thành đày vua Duy Tân, Pháp chủ trương đào các mả vua chúa lên để lấy vàng. Ông Nguyễn Hữu Bài, cha vợ Ngô Đình Khôi anh ông Diệm, phản đối trong khi các quan khác lại ngậm miệng). Ông Thục nói là cả nhà phải nghe. Khi Mỹ ép gia đình họ Ngô đi di tản để đưa Phan Quang Đán về, ông Thục không cho: “Tổng thống cứ làm tổng thống, Nhu làm phụ tá cứ làm. Mỹ nói kệ nó. Nước của mình là việc của mình.”Tại sao tôi nói nhiều khía cạnh về anh em họ Ngô? Để trả lời phần nào cho những diễn biến cuộc đấu trí trong tù. Có lần nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng trò chuyện với tôi, muốn nghe về giai đoạn này. Tôi bảo: Muốn hiểu câu chuyện phải hiểu rõ kẻ địch. Tôi đã hai lần bị bắt: lần trước là thời kỳ thanh niên, tham gia hoạt động Việt Minh năm 1940-1941. Thời đó tôi khỏe, bị đánh ngủ dậy là khỏe. Khi bị bắt, ráng chịu mấy tháng. Đánh xong là ký cung, nhốt vào tù. Pháp cho rằng thế là yên. Bị nhốt, không liên lạc được với bên ngoài, không hoạt động được nữa là thôi. Từ thời Diệm rất khác. Nó giam để khai thác vô thời hạn. Cứ giam đấy, vớ được tài liệu gì dính anh, nó lại kêu lên hỏi. Người tù luôn ở tâm trạng cái chết treo trước mặt. Nó có yêu cầu chính trị của nó chứ không chỉ đánh phá về tổ chức không thôi. Nó mở cuộc đấu tranh tư tưởng thật sự với người tù trong thế nó mạnh, nhốt anh, có thể không cho ăn, thậm chí không cho vệ sinh thân thể. Nó hành hạ trên sinh hoạt, đánh không nhiều. Diệm - Nhu có nêu ý kiến trong một cuộc họp ngành an ninh: Vì sao người Pháp cả 100 năm không tiêu diệt được Cộng sản dù họ lập ra biết bao nhà tù, bao nhiêu cách khảo tra? Nhiều người lúc bị bắt không phải Cộng sản, là một nông dân, thật thà đến khờ khạo, vậy mà khi ra tù trở nên tinh khôn, thật kỳ lạ, thành một người Cộng sản có lý luận. Nếu sử dụng nhà tù, rồi bắn giết mà hiệu quả thì Pháp đã thành công từ lâu rồi. Diệt Cộng sản kiểu Pháp không ăn thua. Chính vì vậy, Diệm - Cẩn đưa ra chính sách: Với Cộng sản phải dùng cách “qua cầu rút ván”. Lợi dụng phong trào ta đang lúc khó khăn, chúng kết hợp thủ đoạn cứng rắn với lừa gạt dụ dỗ tấn công tư tưởng khiến người bị bắt luôn phải căng thẳng, đưa dân họ vào con đường phản bội từng bước. Khi có sai lầm với tổ chức rồi thì có ra tù cũng không được tin dùng nữa. “Lấy chim cu diệt chim cu, lấy chúng nó đánh chúng nó” là một ý tưởng của Diệm - Cẩn.Đã có lần Ngô Đình Cẩn tập hợp số anh em bị bắt ở Huế, thuyết phục bằng lời lẽ kích động: Các anh là ân nhân của đất nước, là tinh hoa của đất nước. Bởi nếu không có kháng chiến thì cũng không có cả nước Việt Nam Cộng hòa. Nhưng các anh bị Cộng sản lợi dụng và cướp công. Vì thế, chế độ của Ngô Đình Diệm mời các anh hợp tác. Được như vậy là hồng phúc lớn của dân tộc.***Sau khi không lung lạc được ông Mười Hương, Ngô Đình Cẩn đưa ông về giam ở trại lao Thừa Phủ (Huế) và tiếp tục dùng đòn tâm lý, tư tưởng hành hạ thể xác qua chuyện giam trong phòng tối, chuyện ăn, ngủ... Để tồn tại trong nhà tù, ông Mười Hương “phải tìm việc làm” cho cái óc của mình để không bị đi đến chỗ phản bội. Ông kể, một trong những hình ảnh lưu giữ động viên tôi nhiều nhất là cặp mắt trong veo của con trai tôi (anh Trung, nay đã là đại tá quân đội): “Mình phải làm sao để khi về, hai cha con có thể nhìn thẳng vào mặt nhau. Nếu tôi phản bội, tôi làm gì sai, thì rồi sống cũng như chết thôi.”Cái khổ trong tù là: trước lúc bị bắt nghĩ đến lúc bị tra tấn, muốn chết. Đau và chết là hai ám ảnh với người bị bắt. Mình cứ chờ: thôi nó đánh cho xong, chứ chờ là khổ nhất. Trong lúc chờ đợi, tôi nghĩ phải làm thế nào để giữ được. Con người còn sống còn nghĩ. Nghĩ vì ích lợi, không đưa đến tiêu cực. Tôi nghĩ ra cách: ôn lại Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm. Nghĩ cho đến lúc đi ngủ, không sợ sệt. Phải tìm việc làm cho cái óc của mình, bởi con người ta đi dến chỗ phản bội cũng từ suy nghĩ. Tôi kết luận được tính chất của chính sách Diệm: não, tinh thần là quý nhất của con người, Diệm làm cho hư hại.Cái chính là nó hành hạ mình. Không có người bên cạnh trong phòng tối. Ăn uống thì người tù trại chính được cả suất, mình chỉ nửa suất, tiêu hao sinh lực. Trước thì giam ở phòng tối rửa ảnh cũ của Nha Công an. Sau đưa lên trại lao Thừa Phủ Huế cũng xà lim riêng. Quần áo suốt gần sáu năm tù chỉ có một bộ.Mà Huế thì lạnh lắm.Đó là một thời kỳ máu lửa. Chỉ trong hai năm bọn Diệm triệt hạ gần hết cấp ủy Thừa Thiên - Huế. Ở Quảng Nam, Quảng Trị bị bắt cũng nhiều. Có những người địch sử dụng được làm quần chúng hoang mang. Anh em mình cũng có người sai lầm, có người khờ khạo tưởng có thể trá hàng, lừa được kẻ địch, có thể lợi dụng được “chính sách”. Cậu Hội “cao”, võ rất giỏi, trước đây trong kháng chiến nổi tiếng đánh mật vụ Tưởng ở Đà Nẵng. Hội “cao” tưởng lợi dụng được tụi đưa cơm, viết thư cho cơ sở báo cho các đồng chí chạy trốn, nhờ chuyển. Không ngờ bị họ đưa tất cả cho công an địch. Hội “cao” bỏ trốn không thoát, nó đánh chết. Cuộc đấu tranh tư tưởng mình chỉ có cái óc, địch có bộ máy. Mình khó lòng lừa nó được. Mình tôi mà có tới 10 người gác ngày, đêm. Lúc nào nó cũng quan sát mình. Phải rất cảnh giác, không khiêu khích yêng hùng nhưng biết tranh thủ tùy đối tượng. Với tụi gác, tôi chỉ hỏi rõ các quy định để biết mà thực hiện, cái gì giúp được thì họ giúp. Thí dụ về khuya xin được mở cửa cho thoáng. Cho tự cọ bô khỏi hôi, toàn việc bình thường với lòng nhân ái con người bình thường chứ không nhờ gì về chuyện liên lạc. Với anh em mang cơm cũng vậy, không biết địch nó có “xây dựng” các cậu này không.Ngay ở những điểm nhận xét về con người như thế này, ở ngoài tù có nhiều người không hiểu, nghĩ cũng không biết về hoàn cảnh đẩy người cán bộ đến chỗ thỏa hiệp. Ngay anh Đạt, Phó Bí thư Thừa Thiên, bị tụi Cẩn lung lạc và đưa ở cùng với tôi khi ra Huế. Anh gặp tôi khóc: “Chúng em sai rồi. Anh cố giữ đầu tàu cho anh em trông vào. Nhưng không sống được đâu anh ạ”. Có lẽ đó cũng là lời trăng trối của Đạt.Nó có đánh đập ông không, vì có người tù Cộng sản nào lại thoát được đánh đập? Để trả lời câu này, có thể dùng kết luận về bọn mật vụ miền Trung: Xuyên suốt từ đầu đến cuối, nó dựa vào tâm lý, tư tưởng. Nếu có đánh là nó thử một cú xem sao. Đánh một lần không ăn thua là thôi, vì Cẩn không chủ trương đánh những người quan trọng như ông Mười Hương người phụ trách tình báo miền Nam. Ông được biết mấy thằng đánh ông đã bị Cẩn gọi lên chửi: “Chính sách của tao là dụ dỗ. Chúng mày định phá chính sách của tao à? Tụi bây tưởng tao không biết làm như công an Sài Gòn à? Nhưng tao không làm. Những người mà một câu nói của họ ủng hộ mình bằng vạn thằng bộ trưởng tay sai. Chúng mày đánh là phá chính sách của tao!”.Ở nhà lao Thừa Phủ xảy ra mấy chuyện:Thái độ của tụi canh gác: Sáu tháng đầu, chúng khiêu khích, không cho yên ổn, vừa nằm xuống định ngủ thì đập cửa kêu dậy làm việc nhưng không thấy gì. Nó muốn mình mất ngủ. Ông Mười Hương thiền suốt đêm cho đến khi ngủ gục. Chúng lại đập cửa. Tuy nhiên cũng có những lính gác động lòng. Một người tên Nhung lúc thay ca lén ném cho ông chiếc chăn đơn: “Anh ạ, trâu sao bò vậy, thấy anh tôi không cầm lòng nổi, tôi làm theo lệnh trên, anh thông cảm. Anh đắp chăn mà ngủ, hết ca tôi gọi anh dậy trả chăn”. Nhờ vậy nên ông mới gà gật được một chút qua đêm lạnh cóng.Chuyện ăn uống cũng vậy. Có thời gian suốt nửa tháng ăn cơm muối không. Muối hột cứ ăn từng đợt như thế, sức lực kiệt dần. Sống được cũng là do người gác còn chút lương tâm làm ngơ khi biết anh em làm bếp có tiếp tế. Họ giấu cá, thịt dưới bát cơm. Khi ra đổ bô, phía sau vườn có những cây hoa, dưới gốc mọc rau dại li ti, ông bứt vội mà ăn, không được phép cũng cứ lấy. Có lần ông được lén cho chiếc lòng đó trứng gà. Ông nhớ lại: “Chưa bao giờ tôi ăn cái lòng đỏ trứng ngon đến vậy. Có chút rơi vãi, lấy tay chấm như người nghiện chấm thuốc phiện rơi xuống chiếu”. Những đồng đội ở xà lim khác cũng cứu giúp một cách bí mật. Đi cầu tiêu, ông nhìn xéo ra chỗ sân nơi tù phụ nữ ra vờ như phơi đồ. Một chị ra phơi miếng vải trắng, tay vuốt vuốt nước, nhìn ông ra hiệu, khi ông ra đổ bô, lấy đem vào. Ông làm gì được với miếng vải đó?“Có lẽ các chị thấy trời lạnh quá mà tôi chỉ mặc xà lỏn nên ra hiệu cho tôi lấy vải may đồ. May thế này: Tôi lén viết thư chuyển cho anh chị em xà lim bên xin kim chỉ và lưỡi dao cạo. Tôi tự cắt để may thêm chiếc xà lỏn nữa. Ở tù, ai cũng biết lục lọi, moi tìm từ các lỗ, ngách để hy vọng thấy gì đó được giấu từ người tù trước để lại.”Thời kỳ đó, giám thị nơi tôi bị giam nghe anh em kêu là “thầy Mai”, đảng viên Quốc dân Đảng, đã làm rất lâu cho Pháp. Văn phòng của “thầy Mai” ở cùng dãy với xà lim của tôi. Thường thì ông ta buổi trưa về nhà ăn cơm. Tôi nghĩ cách sẽ bí mật may quần áo buổi trưa. Trong phòng tối, ngoài trời nắng gắt nên có thể tận dụng tia sáng qua khe cửa.Ông làm như vậy cho đến một buổi trưa, đang hí húi may chợt thấy bóng người đứng lù lù nơi cửa. Ngửng nhìn thì đúng là tên giám thị. “Thầy Mai” cất tiếng quát:- Mày làm gì?Ông Mười Hương không trả lời. Ba lần hỏi như vậy vẫn thấy người tù im lặng, hắn gặng:- Sao hỏi không trả lời?Lúc đó, ông mới nói thong thả:- Tôi là thầy giáo. Tôi không bao giờ mày tao chi tớ với ai. Với con tôi, tôi cũng dạy nó như vậy.Chợt hiểu, hắn thay đổi:- Anh làm gì?- Tôi may.- Lấy đâu ra may?- Người ta cho.- Ai cho?- Ông đã biết tôi bị giam mấy năm nay không khai báo. Chắc khi đưa tôi đến đây giam, người ta phải báo cho ông biết điều đó rồi.Sau một lúc đối đáp cụt lủn vậy, “thầy Mai” đổi giọng:- Tôi biết anh chứ. Nhưng sao cần không nói cho chúng tôi biết?Lại nói giọng ôn tồn mà dứt khoát, ông Mười:- Tôi không muốn phải xin các ông, vì xin là phải trả mà tôi lại không trả được cái các ông muốn. Ông đã biết những chuyện quan trọng như khi tôi bệnh cũng không xin thuốc. Tên giám thị thấy được sự thật trong lời nói này. Hắn biết ông đang bị phù thũng nặng, toàn thân như tê bại, chỉ còn cặp mắt và lưỡi để cất tiếng nói. Hắn hạ giọng:- Anh không sợ gì sao? Chỉ khổ thân anh thôi.Ông Mười thuyết phục:- Ông không biết ai cho tôi đồ may. Việc này cũng chỉ mình ông biết, tôi mong ông nhắm mắt bỏ qua. Đời còn dài. Sau này biết đâu con cái tôi lại gặp con ông. Để cho chúng nó còn nhìn mặt nhau. Ông vẫn thường nói mình sẽ không ham lên chức tước gì nữa, vậy ông nên bỏ qua việc này. Hắn bỏ qua thật. Ông Mười Hương nhận xét: “Con người cũng phải còn có chút lương tâm. Mình không chọc vào cá nhân, không coi thường, vênh váo thì cũng thu phục được ít nhiều”



