Trần Quốc Hương (Mười Hương): Người Chỉ Huy Kiệt Xuất và Người Thầy của Những Huyền Thoại Tình Báo Việt Nam
Lê Văn Quản
I. Thân thế và tuổi trẻ cách mạng (1924–1945)
Đồng chí Trần Quốc Hương tên thật là Trần Ngọc Ban, sinh ngày 20/12/1924 tại xã Vụ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (trước đây là tỉnh Hà Nam Ninh). Ông là con trai út trong một gia đình tư sản. Dù có thời điểm gia đình ông bị quy là "địa chủ - tư sản", ông vẫn được nuôi dạy chu đáo dưới sự giáo dục nhân nghĩa của người mẹ nông dân tuy không biết chữ nhưng thuộc nhiều ca dao tục ngữ và hát ví rất hay. Cha ông cũng là một người giàu lòng yêu nước, thuở nhỏ từng chèo thuyền đưa cụ Phan Bội Châu đi gặp gỡ các lãnh tụ phong trào trong vùng.
Năm 13 tuổi (1937), ông sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào Đoàn Thanh niên Dân chủ Phản đế, dưới sự dẫn dắt của người thầy Nguyễn Đức Quỳ (sau này là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, rồi Thứ trưởng Bộ Văn hóa). Ông tích cực hoạt động và trở thành Ủy viên Ban Chấp hành thanh niên Cứu quốc Hà Nội. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, được sự giới thiệu của thầy Quỳ, ông lên Hà Nội gặp gỡ các đồng chí Trường Chinh, Lê Toàn Thư, Hoàng Đình Tuất và đặc biệt là Bác Hồ, giúp ông nhận thức rõ ràng hơn về lý tưởng cách mạng.
Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt giam cùng đồng chí Nguyễn Thọ Chân do treo cờ Việt Minh và rải truyền đơn. Do còn ở tuổi vị thành niên, sau hơn một năm giam giữ, ông được trả tự do kèm theo lời cảnh báo của mật thám Pháp: “Đừng thấy nó nhỏ tuổi mà coi thường, cộng sản đã ăn vào máu của nó rồi”. Năm 1942, ông tiếp tục bị bắt trong một cuộc đấu tranh ủng hộ Liên Xô và bị giam giữ tại nhà tù Hỏa Lò, Hà Nội. Trong tù, ông luôn giữ vững khí tiết kiên trung của người chiến sĩ cách mạng cho đến khi được trả tự do vào năm 1943.
Ngay sau khi ra tù, ông lập tức bắt liên lạc với tổ chức, học lớp bồi dưỡng của Xứ ủy và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Ông được phân công về làm Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Phúc Yên. Từ năm 1943 đến 1945, ông công tác tại Đội trực thuộc Thường vụ Trung ương (tổ chức tiền thân của ngành Công an), làm việc trực tiếp bên cạnh đồng chí Trường Chinh. Ông đã trực tiếp liên lạc với nhiều trí thức lớn để lấy ý kiến đóng góp cho bản “Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943” của Đảng. Đồng thời, trong buổi lễ ra mắt quốc dân của Chính phủ lâm thời ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, ông là người phụ trách vấn đề an ninh bảo vệ tuyệt đối an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo.
Từ cuối năm 1946 đến năm 1948, ông hoạt động trong Ban Công vận Thành ủy, làm Bí thư Hội Công nhân Cứu quốc Hà Nội, phụ trách Nhà in Tiến Bộ, báo Cờ giải phóng, Nhà xuất bản Sự thật và hệ thống giao thông liên lạc, bảo vệ căn cứ địa An toàn khu (ATK) của Trung ương.
II. "Kiến trúc sư" đứng sau những mạng lưới tình báo huyền thoại
Năm 1949, ông Trần Quốc Hương gia nhập ngành tình báo quân sự thuộc Cục Tình báo quân sự, Bộ Tổng tham mưu. Đến năm 1950, ông được điều động về phụ trách Phòng Điệp báo Nha Công an, rồi làm Phó Giám đốc Nha Tình báo Trung ương (tình báo chiến lược). Năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ vào chi viện cho chiến trường miền Nam, làm Ủy viên rồi làm Phó ban Địch tình của Xứ ủy Nam Bộ. Tại đây, ông hoạt động bí mật dưới danh xưng Mười Hương.
Với vai trò chỉ huy tình báo chiến lược, ông Mười Hương đã trực tiếp tổ chức mạng lưới tình báo phía Nam, trực tiếp xây dựng và chỉ đạo những nhà tình báo huyền thoại mang tính chiến lược quyết định như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, và Phạm Ngọc Thảo. Ông được tôn vinh là "Người thầy của những nhà tình báo huyền thoại" nhờ tài năng chọn người, dùng người xuất chúng cùng triết lý "tình báo nhân văn":
Phạm Xuân Ẩn: Ông Mười Hương đã phát hiện ra khả năng của Phạm Xuân Ẩn từ rất sớm. Nhận thấy Ẩn có tư chất đặc biệt phù hợp với văn hóa Mỹ, ông đã bàn bạc và thuyết phục Ẩn chuyển từ làm thư ký nhà đoan sang làm báo tự do. Ông vạch kế hoạch và vận động kinh phí từ các cơ sở kinh tế cách mạng để đưa Phạm Xuân Ẩn sang Mỹ du học ngành báo chí với dặn dò: "Học thật giỏi nghiệp vụ, hiểu rõ nền văn hóa Mỹ, tư duy và làm việc như người Mỹ". Ông Mười Hương luôn tự hào về Phạm Xuân Ẩn và đánh giá Ẩn vĩ đại hơn cả nhà tình báo Richard Sorge của Liên Xô vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến lược mà vẫn giữ được an toàn, bí mật tuyệt đối cho đến ngày chiến thắng.
Vũ Ngọc Nhạ: Phát hiện ra Vũ Ngọc Nhạ (lúc đó là cán bộ thị ủy Thái Bình), ông Mười Hương nhận ra thế mạnh của Nhạ trong mối quan hệ với các chức sắc tôn giáo. Ông đã chỉ đạo Nhạ xây dựng các mối quan hệ sâu rộng trong giới Công giáo, tạo tiền đề để Nhạ trở thành "ông cố vấn" trong dinh Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Lê Hữu Thúy: Khi nhận bàn giao Lê Hữu Thúy, ông Mười Hương nhận ra ngay sự giỏi giang sắc sảo của người điệp viên giỏi văn chương này. Ông định hướng cho Thúy thâm nhập sâu vào hậu trường chính trị miền Nam, thiết lập quan hệ với lực lượng Hòa Hảo và Bình Xuyên để thu thập tin tức.
Phạm Ngọc Thảo: Khi được giao chỉ đạo Phạm Ngọc Thảo, ông Mười Hương nhận thức rõ Ngô Đình Diệm là người có tinh thần "quốc gia dân tộc". Ông đã gửi nhận định về Trung ương khuyên không nên để Thảo hoạt động theo lối đầu hàng cách mạng truyền thống mà phải xuất hiện như một người yêu nước theo khuynh hướng quốc gia dân tộc không Cộng sản. Nhận định xuất sắc này đã giúp Phạm Ngọc Thảo giành được sự tin cậy tuyệt đối của Ngô Đình Diệm, khuấy đảo chính trường Sài Gòn từ bên trong.
III. Bản lĩnh thép trong lao tù và cuộc giải cứu ngoạn mục (1958–1964)
Tháng 6/1958, ông Mười Hương bị Đoàn công tác đặc biệt miền Trung của chính quyền Ngô Đình Diệm bắt tại một điểm hẹn ở Gò Vấp. Chúng biết ông là cán bộ tình báo cao cấp nên đã dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, chuyển hướng tư tưởng hòng thu phục ông vào bộ máy chính quyền.
Suốt 6 năm tù đày khốc liệt (1958–1964), ông bị biệt giam tại nhà giam Chín Hầm (Huế) dưới sự cai quản tàn bạo của Ngô Đình Cẩn và đối mặt với những cuộc đấu trí cân não trực diện với cả ba anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn. Ngô Đình Nhu từng dùng đèn cao áp rọi vào mắt ông nhiều lần nhằm làm rối loạn thần kinh nhưng vẫn không khuất phục được ý chí của ông. Ông Mười Hương kiên quyết khai tên giả là Trần Ngọc Trí. Trước sự đe dọa của mật thám, ông thẳng thắn đấu tranh trực diện: “Người cách mạng bị bắt có ba việc không làm: không khai báo, không nói xấu cách mạng, không nói xấu Chính phủ Cụ Hồ”.
Chính sự kiên cường chịu đựng tra tấn và giữ im lặng tuyệt đối của ông Mười Hương trong tù đã bảo vệ an toàn cho toàn bộ mạng lưới tình báo chiến lược ở miền Nam, đặc biệt là Phạm Xuân Ẩn khi đó đang học tập tại Mỹ không bị lộ.
Đến tháng 11/1963, cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm nổ ra. Nhân lúc chính trường Sài Gòn hỗn loạn, Ban Địch tình Xứ ủy đã chỉ thị cho Cụm tình báo H63 bằng mọi giá phải giải thoát ông Mười Hương. Đại tá Tư Cang (Cụm trưởng H63) cùng nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn đã lập kế hoạch tiếp cận và mua chuộc viên cai ngục với số tiền 100.000 đồng (tương đương hơn 33 lượng vàng lúc bấy giờ). Số tiền này được bà Võ Thị Huê (Bảy Huê) – một nhà tư sản yêu nước kính trọng ông Mười Hương – bán cơ sở sản xuất tại cầu Băng Ky để tài trợ.
Đúng kế hoạch, viên cai ngục ngó lơ 15 phút để ông Mười Hương tự tìm đường thoát thân. Ông lập tức được Phạm Xuân Ẩn chở bằng xe máy ra ngã tư Bảy Hiền. Tại đây, ông Nguyễn Văn Hoành (cha của đồng chí Tư Cang) đã chờ sẵn bằng taxi đón ông về Phú Hòa Đông (Củ Chi). Cụm tình báo H63 sau đó bố trí cho ông đi xe đạp băng qua các tuyến đường ráo riết truy bắt của địch để đưa ông về căn cứ Bời Lời (Trảng Bàng, Tây Ninh) rồi di chuyển lên khu vực núi Bà Đen an toàn. Tháng 5/1964, tổ chức hợp thức hóa việc giải thoát và đón ông trở lại hoạt động.
IV. Hoạt động sau ngày thống nhất đất nước
Năm 1965, ông Mười Hương được đưa ra miền Bắc chữa bệnh. Từ năm 1966 đến 1968, ông công tác tại Bộ Công an, phụ trách Cục Kỹ thuật. Sau đó, từ năm 1969 đến 1972, ông tiếp tục được điều động vào miền Nam làm Ủy viên Ban An ninh miền Nam. Từ năm 1972 đến 1976, ông là Ủy viên Thường vụ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định.
Sau khi đất nước thống nhất, ông Trần Quốc Hương đã đảm nhiệm nhiều chức vụ đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nước:
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI.
Bí thư Trung ương Đảng khóa VI.
Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
Phó Bí thư thường trực Thành ủy Hà Nội.
Phó Chủ nhiệm thứ nhất Ủy ban Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ).
Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch.
Trưởng Ban Nội chính Trung ương (giai đoạn 1986–1991).
Đồng chí Trần Quốc Hương qua đời ngày 11/6/2020 tại Bệnh viện Thống Nhất, TP.HCM, hưởng thọ 97 tuổi. Để ghi nhận những cống hiến to lớn của ông, Đảng và Nhà nước đã tổ chức tang lễ cho ông theo nghi thức Lễ tang cấp Nhà nước. Linh cữu của ông được an táng tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh.
Cả cuộc đời cống hiến thầm lặng cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí Trần Quốc Hương đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:
Huân chương Sao Vàng.
Huân chương Hồ Chí Minh.
Huân chương Độc lập hạng Nhất.
Huân chương Quân công hạng Nhất.
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.
Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.
Trong lòng đồng đội và nhân dân, ông luôn là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, giữ vững nguyên tắc và lòng trung thực, xứng đáng với danh hiệu kính trọng mà đồng chí dành cho ông: “Hương sự thật”.
V. Nguồn tài liệu truy xuất
Tiểu sử nguyên Trưởng Ban Nội chính Trung ương Trần Quốc Hương – TTXVN / VietnamPlus.
Cuộc đời người chỉ huy tình báo Trần Quốc Hương – Cổng thông tin điện tử Thành ủy TP.HCM.
Anh hùng Tư Cang nói về huyền thoại tình báo Mười Hương – Báo Tiền Phong.
Mười Hương và những huyền thoại để lại – Báo Tuổi Trẻ.
Review sách Trần Quốc Hương - Người Chỉ Huy Tình Báo – Bến Nghé Books (Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải).
Ông Mười Hương: Tôi chỉ dựng kịch, Phạm Xuân Ẩn giỏi nên thành công – Znews (Trích sách "Trần Quốc Hương, Người chỉ huy tình báo").
Mười Hương - Người thầy trong ngành tình báo (sưu tầm) – Lâm Đồng / Câu chuyện thời hoa lửa.
“Ông trùm” đứng sau những tên tuổi tình báo huyền thoại của Việt Nam – VTC News.
Tiễn đưa huyền thoại tình báo Trần Quốc Hương về nơi an nghỉ cuối cùng – Báo Sài Gòn Giải Phóng.


