Sau đình chiến 1954, lực lượng quân ta tập kết ra Bắc. Đối tượng của cách mạng Việt Nam thay đổi. Đảng đã nhìn thấy bàn tay can thiệp của Mỹ, nhận định là kẻ thù nguy hiểm trực tiếp. Sau khi thực hiện chuyển quân tập kết, điều chỉnh khu vực, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam tạm thời có sự thay đổi lớn nên cần phải kịp thời chuyển hướng chiến lược, tạm thời chuyển sang thế giữ gìn lực lượng. Trung ương Đảng chủ trương thi hành phương châm hoạt động kết hợp chặt chẽ công tác hợp pháp với công tác không hợp pháp, nhưng lấy công tác không hợp pháp làm chính “tổ chức công khai phải thật rộng rãi, còn tổ chức bí mật thì phải thật trong sạch và vững chắc. Tổ chức Đảng chủ yếu là bí mật, trong khi đó, tổ chức quần chúng chủ yếu là lợi dụng điều kiện hợp pháp để hoạt động”. Xứ ủy Nam Bộ xin chi viện cán bộ vì sắp tới có nhiều nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ lớn của công an và quân đội: đảm bảo an toàn cho các cấp ủy.
Tháng 7, tháng 8 năm 1954, lúc đất nước bắt đầu chia làm hai miền, Xứ ủy miền Nam và đồng chí Lê Duẩn cử đồng chí Lê Đức Thọ ra gặp Trung ương để bàn về chiến lược cách mạng sắp tới. Đó là lúc chiến trường cần người cán bộ có kinh nghiệm hoạt động địch hậu ở đô thị, biết công tác bảo vệ Đảng trong hoạt động bí mật như đồng chí Mười Hương. Lúc đó, Nha tình báo Trung ương mới thành lập chưa lâu. Đồng chí Lê Đức Thọ đề nghị: “Nếu có thể Trung ương cho Hương đi cùng tôi trở về trong ấy.” Đồng chí Trường Chinh đã trực tiếp xin ý kiến Bác Hồ. Bác nói: “Nếu miền Nam xin chú Hương đi hoạt động thì không nên phong chức sắc gì, vào đó tùy tình hình, đừng để phụ lòng Trung ương.” Bác dặn dò ông Mười Hương cũng rất đơn giản: “Công việc thì các chú giao và dặn chú kỹ rồi. Xem làm được thì nhận và đã nhận thì đừng phụ lòng Trung ương. Đi sao nhớ về vậy.” Trước đó, đồng chí Trường Chinh đã nói kỹ lắm rồi: “Khó khăn nhiều lắm đấy, đi không biết bao giờ trở lại. Phải suy nghĩ cho kỹ, nếu không đi được cứ báo cáo Trung ương. Đừng ép gì. Phải giữ bí mật tuyệt đối.”Trước đó nữa thì ông đã gặp một người bạn khá nổi tiếng, Bùi Lâm, phụ trách tòa án quân sự Liên khu 3, người đã xử án Bảo Đại và xử bắn Trưởng Ty Công an Hà Nam. “Tôi ở tả ngạn về Văn phòng Trung ương theo lệnh gọi. Đến Nhật Lựu, cách Phủ Lý 5km thì gặp Lâm. Lâm rủ sang chỗ anh ấy ngủ một đêm. Lâm đoán tôi sẽ đi Nam nên phân tích nhiều, anh nói quan niệm về thực dân cũ, mới. Thực dân Pháp đi đến đâu “ông cha đi trước, lính tập theo sau”, tuyên truyền công giáo trước. Thực dân Anh sang Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan dựa vào công ty kinh tế, anh nhà buôn, tức là kinh tế luôn đi trước. Cho nên chính sách khác nhau. Còn Mỹ thì cũng khác nữa: can thiệp Trung Quốc cũng qua các nhà buôn, nó cai trị cả nước Trung Hoa, nhưng chỉ nắm thông qua bốn dòng họ lớn: Tưởng, Tống, Khổng, Trần. Bốn họ này nắm 80% tài sản Trung Quốc. Mỹ không cần hiện diện cai trị. “Pháp là thực dân cũ, nay vào miền Nam có thực dân mới, mày vào lạ nước lạ cái. Nếu mày đi, người khổ nhất là mẹ mày.” Nhớ đến đó, hình như ông Mười Hương thoáng cười vì cách nhìn thời cuộc của một người bạn xa xưa, cách nay đã nửa thế kỷ. Nhưng còn việc ông ra đi người khổ nhất là mẹ thì điều này thực sự là niềm thương xót trong ông.“Hôm sau, tôi về thăm mẹ. Đêm đến, không ngủ, bà ngồi sờ mặt, sờ tay con. Bây giờ yên rồi, mày đưa thằng con về đây tao nuôi. Lúc nhỏ “con mẹ con cha, lớn lên là con vua con chúa”, con đi làm việc làm sao mẹ giữ được. Bà khóc. Về việc tôi đi làm nhiệm vụ, bố tôi không biết là tôi làm gì, chỉ nói: Mày đi theo anh em cách mạng đứng đắn, thế là được. Nhưng đừng để khó cho ai. Không nên khi vui thì vỗ tay vào đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.”***“Cậu không tham gia cấp ủy nào nhưng có năng khiếu tình báo, công an.” Đó là lý lẽ của đồng chí Trường Chinh không chịu khi ông Phạm Văn Đồng lấy tôi về ngoại giao.Ông Mười Hương thường nhớ lại thuở còn làm việc với các lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam với nhiều chi tiết. Và phân tích sự sáng suốt của Bác Hồ.“Tôi coi Cụ Hồ là một nhà tình báo giỏi. Khi hoạt động ở nước ngoài Người tự tìm hiểu mọi điều, quen thân đủ loại người. Tôi nhớ Cụ nhận xét người Anh khác hẳn với điều ta thường nghe: phớt tỉnh Ănglê. Nhưng Cụ Hồ bảo, người Anh thật ra rất dí dỏm và lanh trí đối đáp. Cái “phớt tỉnh” của họ không hoàn toàn là sự băng giá lạnh lùng, mà là sự bình tĩnh.Chính Cụ Hồ chỉ thị xây dựng ngành tình báo chiến lược, đào tạo một số cán bộ chuyên ngành. Khi tôi đi vào Nam, Cụ Hồ dặn rất kỹ: Chú đi vào nơi khó lắm đấy. Phong cách ở miền Nam phải khác. Rồi Bác phân tích cho tôi hiểu tình hình: Mỹ xâm lược nhưng giấu mặt. Nó không muốn tính chất cuộc chiến là chiến tranh cứu nước, mà là nội chiến, là chiến tranh ý thức hệ.”Cho đến những năm đã cao tuổi, vào năm 2006, ông Mười Hương vẫn có thể phân tích tình hình khá rõ, thời kỳ sau khi Hiệp định Genève được ký kết, các lãnh tụ cách mạng cử ông vào Nam. Sau Điện Biên Phủ ta thắng lớn lắm, nhưng nhìn tình thế vẫn là: Ai trả tiền, người ấy làm chủ. Cuộc chiến tranh này Mỹ bỏ ra 80% chi phí, vậy thì Mỹ sẽ “đòi”. Thất bại này là của cả Pháp lẫn Mỹ. Cho nên chúng ta đánh thắng Pháp nhưng chưa chắc đã kết thúc được chiến tranh đâu. Khi chúng ta mời đại diện của Anh, Mỹ chứng kiến hội nghị Genève, họ có chịu ký kết công nhận gì đâu. Họ làm cho miền Nam không thi hành. Vì thế, theo ông Mười Hương, Bác Hồ đã nhìn thấy phải chuẩn bị một cuộc chiến tranh khác. Nhìn ra điều này khi chiến tranh Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đâu phải dễ. Cũng chẳng phải ai tài cán bấm độn theo kinh Dịch, mà phải là một nhà chính trị - quân sự tài năng.Mỹ sẽ phải xoay gỡ 80% tiền của họ bỏ vào đây chứ. Vì thế Bác cứ dặn đi dặn lại: Hương đi là khó lắm đấy nhé. Chú sẽ khó hai cái: cách làm việc của miền Nam khác ngoài này. Trung ương không phong chức vụ, không giới thiệu. Chú vào đó làm việc, học hỏi, nếu được chấp nhận thì làm việc, nếu không phải quay ra. Ông Phạm Văn Đồng bảo: Nếu không được, thì vào đó chỉ phổ biến chỉ thị, giúp đào tạo rồi 6 tháng ra. Bác bảo: Còn nếu trong đó cần chú, họ xin thì Trung ương sẽ cho.Lúc đó đồng chí Lê Đức Thọ ra báo cáo tình hình và xin Trung ương cho một người có kinh nghiệm hoạt động nội thành, hoạt động địch hậu.***Và thế là từ giā gia đình, ông lên đường vào miền Nam cuối năm 1954, hai tháng sau đó Ngô Đình Diệm được Mỹ đưa về. “Tôi vào bằng máy bay địch với đoàn liên lạc đi đầu tiên”. Cuộc ra đi quan trọng và là một biến cố lớn trong đời chỉ được ông nói gọn như thế.Nếu tìm các sự kiện trong đời, riêng về việc đi máy bay ông đã có ba lần bay lên trời thật đặc biệt. Một lần nữa, với thân phận người tù bị đưa ra Huế trên chiếc máy bay Dakota nhà binh. Khi máy bay rời Tân Sơn Nhất, ông còn nhìn xuống tìm xem căn nhà sát sân bay của một thượng sĩ quân cụ, nơi ông đã được ở đó khi mới vào miền Nam. Người thượng sĩ này lấy một cô vợ nghèo đã có một con với người chồng trước đi tập kết. Anh rất thương và nể vợ. Họ có hai con chung. Anh hay bia bọt, đời lính hết giờ nhiệm sở đi chơi, anh cũng chẳng biết ông khách được người ta gửi ở nhờ nhà mình là một ông Việt cộng phụ trách tình báo. Người vợ và mấy đứa trẻ rất quý “cậu Hai” (tên gọi của ông Mười Hương khi mới vào Nam hoạt động). Chỉ cách vài hôm trước ngày ông bị bắt, có ghé về nhà thì đứa con gái út của họ còn láu táu vui mừng dặn: Cậu Hai, Chủ nhật cậu về nhá. Cậu về, con mới được ăn thịt. Má mua vịt bảo chờ cậu Hai. “Đó là một gia đình tốt, nay vẫn ở Gò Vấp. Năm 1975, Sài Gòn giải phóng, gặp lại nhau, người vợ vẫn nhớ ông, òa khóc, lúc đó cô ấy buồn vì mình là “gia đình lính ngụy” nhưng gặp lại mừng quá.”Tất cả những hình ảnh về ngôi nhà, về tình thương yêu của người dân như thế ông bỗng nhớ lại khi máy bay cất cánh đưa người tù ra Huế để nhốt ở trại Tòa Khâm, bắt đầu cuộc chiến đấu rùng rợn trong trại giam Chín Hầm của mật vụ miền Trung của Ngô Đình Cẩn.Lần thứ ba ngồi máy bay cũng rất đặc biệt, khi ra tù vào năm 1963 rồi được đưa ra miền Bắc. “Nếu đi đường Trường Sơn như cán bộ, bộ đội đi trong chiến tranh thì không đủ sức vì mới ra tù nên tôi được bố trí cho đi theo đường công khai. Máy bay qua Phnom Penh, sang Thượng Hải rồi về Hà Nội.”Lần bay khỏi quê nhà, năm 1954 ấy, ông suy nghĩ gì? Không thấy ông kể. Nhưng ông đã để lại phía sau gần như tất cả cuộc đời mình: vợ con, cha mẹ, đồng đội, làng quê, tất cả, cả người cha sau này bị đấu tố trong sai lầm của Cải cách ruộng đất, chết chưa kịp gặp lại con.., để đến một miền xa lắm, chưa tới bao giờ, chưa biết có ngày trở lại hay không.***Sau khi vào chiến trường miền Nam, ông được đưa lên Sài Gòn. Người giao thông liên lạc dẫn ông đi là một công nhân hãng Ba Son, sau này bị sa vào tay giặc, bị đánh đến chết. “Tôi ở nhà người cậu ruột ổng cũng là một công nhân, có gia đình bên ngoại là người Hoa quê Phúc Kiến.” Họ thương ông lắm dù biết ông là người của kháng chiến. “Đó là một ngôi nhà cổ ở Phú Nhuận. Tôi trong vai ông Hai thầy giáo dạy kèm lũ trẻ. Bây giờ, sao bao nhiêu năm chiến tranh, tôi vẫn còn liên lạc được với họ. Vẫn lên đám giỗ bà cụ. Các em vẫn thương tôi lắm.”Ông kể về gia cảnh của anh Năm, người cháu của ông già, người đã đưa ông lên Sài Gòn hoạt động: “Anh Năm có người cha cũng là thợ giỏi Ba Son. Gia đình đông con. Có nhiều người hiện đi định cư ở Mỹ. Họ thực sự là một gia đình lớn. Tôi về là bà già lại kêu các con làm cơm, coi tôi như anh Hai thật của gia đình: “Có anh Hai về, tụi bay làm gì ngon ngon cho nó ăn”. Tôi nói gì là các em nghe theo răm rắp. Cái chân thật thuyết phục được gia đình và hơn nữa, uy tín của kháng chiến lớn lắm”.Lúc đó, ông được giao lãnh đạo một số đầu mối mạng lưới tình báo. Đó cũng là lúc nhà tình báo Vũ Ngọc Nhạ đi theo quân đội Pháp vào miền Nam ở một tiểu đoàn công binh, bắt đầu có những móc nối trong tôn giáo Phát Diệm di cư.Tôi bị bắt do có người khai báo. Chúng bố trí bắt tôi tại một chỗ hẹn ở Gò Vấp”. Ông Mười Hương nói về người đã khai báo để mình bị bắt với một thái độ thật ngạc nhiên: không một chút lên án, hận thù. Hình như chuyện ấy ông đã cho nó vào quá khứ nên bây giờ “moi” ra xem lại, ông như có chút gì đó muốn phân tích tìm hiểu lại cho rõ ràng và khách quan hơn.“Về người cán bộ từ Trung ương chi viện mới vào này (ông gọi là anh Ba - TG), tính nguyên tắc trong hoạt động rất yếu. Lẽ ra vào đến đây là phải cắt hết mối liên lạc cũ, anh ta vẫn giữ liên lạc với cậu Tư ở bộ phận giao thông. Sau này, chính cậu Tư bị bể mà anh ta bị lây. Ngay trong tư tưởng anh ta cũng đã có vấn đề. Lúc đó tình hình rất khốc liệt. Tôi đã nhận hai điện báo: khu Năm tổn thất nặng, địch bắt bớ mạnh, có chỗ trắng 100%, nhiều nơi trắng 80-90%. Xứ ủy chỉ đạo phải cắt liên lạc với Trung ương để bảo đảm an toàn. Phải chờ lệnh đã. Giấy tờ cũng vậy. Anh ta có giấy do Trung ương làm rất bảo đảm, trong khi tụi này toàn giấy tờ tự làm. Vậy mà anh ta không yên tâm, vẫn trông chờ Pháp làm cho giấy tờ hợp lệ. Trong tư tưởng anh ta lúc đó có vấn đề nhận thức. Lúc ở ngoài Bắc, anh được nghe nhận định là các đô thị miền Nam phồn vinh giả tạo. Vào trong Nam, anh nhận xét: mình cứ tuyên truyền không thật, ngã tư nào cũng đèn măng sông sáng trưng, rồi máy may, xe máy, xe đạp...Ngay chuyện gia đình, anh cũng rất nặng lòng. Làm người hoạt động bí mật, nhiều khi phải chịu đựng để đảm bảo an toàn. Anh thì khác, muốn lo chu toàn cho một gia đình tới sáu, bảy đứa con. Tôi cũng đã lo giúp hai đứa con anh ra Bắc theo đường Phnom Penh, vì năm 1958 địch đã ngăn tất cả con đường thông thương. Anh còn muốn đưa vợ ở quê lên. Anh đưa chị lên khó lắm. Hoạt động bí mật nguy hiểm. Dù khuyên nhủ vậy nhưng khi anh cứ đưa vợ lên, tôi vẫn giúp tiền để mở cửa hàng nhỏ ở xóm lao động cho họ sống chứ biết làm thế nào. Lúc nó bắt được anh ấy, nó biết anh có bà mẹ, nặng gánh gia đình nên đã gây sức ép. Anh phải khai báo bắt tôi. Chứ tôi biết, nếu chỉ bị đánh thôi, chắc anh chịu được như mọi người.”Thế là năm 1958, ông đã sa vào tay giặc sau bốn năm hoạt động ở miền Nam. “Tôi hẹn anh Ba ba ngày sau gặp nhau để đưa đứa con anh ta ra Bắc. Hẹn qua giao thông nhưng lần ấy không thấy anh ấy đến. Theo nguyên tắc thì phải có hai lần hẹn: chính thức và dự bị. Do lần trước anh không đến gặp giao thông cho nên phòng bất trắc, cái hẹn lần hai tôi không đến thẳng nơi hẹn. Tôi đón con ông chủ nhà cơ sở để thăm dò tình hình. Con ông chủ trách tôi:- Chú Hai hẹn với chú Ba ngày hôm qua sao chú không đến?- Ờ, tao có hẹn gì đâu.- Có! Chú Ba nói chú có hẹn đi mua nhà. Chú không đến, để chú Ba nằm chờ mãi.- Thế chú Ba đi với ai?- Chỉ đi một mình thôi.- Sao nghe nói chú ấy bệnh kia mà?Tôi phân vân, đến trao đổi với một anh cán bộ thẩm tra thêm. “Anh Ba bỏ hẹn giao thông, bữa sau lại đến chờ. Con anh Hai chủ nhà nói vậy, không biết có nên đến gặp không” Anh cán bộ nói nên gặp cái hẹn dự phòng đi. Nếu nó có bị bắt cũng không quay ra phản bội nhanh đến thế. Tôi phân vân quá. Mới vào hoạt động, mới gặp nhau mà bỏ hẹn thì cần thận trọng, không hay đâu. Thế nhưng tôi vẫn phải đi gặp, dù phải tăng cường cảnh giác. Theo hẹn, tôi phải đến một nhà cơ sở tại Gò Vấp. Trước khi vào nhà, tôi tạt ra chợ, gặp bà chủ mời rối rít: “Hai, Hai, ăn gì chưa, lại quán ông già đầu đường ngồi.”Giờ hẹn gặp là 9 giờ sáng nhưng hôm đó tôi đến sớm 8 giờ 30 để quan sát tình hình ngôi nhà điểm hẹn cách đó 100m. Vào trong nhà, tôi tìm chỗ ngồi ở bếp, sát bờ rào. Tôi quan sát phía cổng và tìm xem ám hiệu của ổng khi xuất hiện có đúng không. 9 giờ, đúng hẹn, ổng xuất hiện với đúng ám hiệu an toàn: để xe theo chiều quy định. Tôi đi ra để gặp. Nhìn mặt anh thần sắc có gì đó, ánh mắt lạc đi, hình như có vẻ gì không trong sáng. Anh ta hỏi:- Hôm qua đúng hẹn sao anh không đến?- Ờ, bận. Tôi đưa tờ báo cho anh, hẹn một cuộc khác. “Thôi anh đi đi. Bà chủ nhà hôm nay không muốn ta họp ở đây”. Tôi chưa có ý nghi ngờ, tôi lấy xe đi ra. Hóa ra là anh đã khai báo, dắt chúng đến vây tôi ở đây. Một thằng xáp lại hỏi giấy tờ. Tôi vẫn ngồi trên chiếc xe Mobilét, ý tôi định thằng này mà lơ mơ tôi sẽ vọt đi. Nhưng nó cũng khôn đứng chặn bánh xe trước. Tôi bảo: “Anh cho biết anh là ai mới cho xem giấy tờ được”. Nó rút súng. Tôi cố hoãn binh cốt để anh cán bộ kia tranh thủ mà chạy thoát. Lúc đó, tôi chưa biết là anh ta khai báo bắt tôi, cứ tưởng hai chúng tôi vô tình gặp nạn. Cạnh đó có một quán cóc đông người. Tôi bảo thằng rút súng (nó là Khanh sau là Trưởng ban Mật vụ Nha Cảnh sát): “Anh không dám bắn tôi đâu. Tôi hô lên bây giờ!”. Tôi đôi co với nó hồi lâu, không được. Nó huýt tiếng còi, một tiểu đội lính kín mai phục ở đâu đó xung quanh túa ra, vây lấy tôi. Chúng còng tay tôi lại, hai thẳng kẹp nách hai bên và đẩy đi ngay. Thường mật thám dùng xe thùng đi bắt người. Song hôm ấy, bọn chúng vẫy taxi (sau tôi biết đó cũng chính là taxi của nó). Tôi không biết là tụi nào, Nha Đô thành hay Đặc cảnh miền Đông bắt mình. Đẩy tôi vào xe, chúng lập tức tròng vào mắt tôi cặp kính đã quét sơn đen không thể nhìn qua. Hai thằng ngồi kẹp hai bên. Thằng Khanh ngồi trên, nó cũng ma mãnh, đánh lạc hướng tôi “Này, ông là ông mới chở thuốc phiện về đây hả?” (Ở Gò Vấp cách đấy vài ngày có một vụ liên quan tới thuốc phiện). Tôi hoang mang, mình bị bắt vì hình sự, hay là gì đây. Tôi có đánh mắt và cố hình dung đường đi. Không thấy có vẻ gì là đi về hướng Nha Cảnh sát. Chợt thấy gió lồng lộng thổi. Tôi đoán là ra tới bờ sông. Quả đúng vậy, đó là lúc xe đi qua cầu Khánh Hội, quẹo vào Vân Đồn”Bắt đầu từ đây là cuộc sống tù đày kéo dài sáu năm (1958-1963) của ông Mười Hương và khó khăn nhất là khi ở “nhà tù” Tòa Khâm của Ngô Đình Cẩn ở Huế. Tòa Khâm là nơi người tù chính trị bị thanh lọc, nếu không chịu “chuyển hướng” sẽ bị đày đi Chín Hẩm, Mang Cá, Lồ Ô hoặc nhà lao Thừa Phủ (Huế).Đấu trí ở trại giam Tòa Khâm, HuếNgay sau khi bắt được ông Mười Hương tại điểm hẹn ở Gò Vấp, bọn lính kín đưa ông về Vân Đồn, một kho của quân Bảy Viễn trước đây, giờ được Đoàn mật vụ miền Trung lấy làm trụ sở. Vì là kho nên sân rộng, có một tòa nhà có tầng gác. Chúng để ông ở tầng trệt, có một thằng coi, không nói năng gì. Trưa có cơm. Tối phát mùng: “Ông cứ nghỉ đi. Đừng tìm cách trốn để chúng tôi phải dùng biện pháp không muốn”. Suốt cả ngày không hỏi gì, có lẽ đêm đến nó mới đánh? Cũng không. Sáng hôm sau, ngoài sân thấy lính ra tập sớm. Đến khi nhìn qua khe cửa mới biết anh em cùng hoạt động cũng bị bắt vào đây.“Khi còn ở ngoài hoạt động, tôi luôn nghĩ: Hoạt động mà bị bắt thường phải nghĩ tới hai trường hợp: nó không biết gì về mình, có thể nghĩ ra cách cung khai một bản cung giả nhưng phải hợp lý. Khi nó đã biết về mình rồi, chỉ còn cách đấu tranh trực diện. Vì vậy, việc quan trọng bây giờ của tôi: phải tìm hiểu cho ra vì sao mình bị bắt, từ đó mới có thể hiểu là kẻ địch đã biết gì về mình hay chưa.Bọn chúng để yên cho tôi ba ngày, không hỏi han, không đánh đập. Tôi chưa hiểu nó định làm gì. Lúc ấy đầu óc tôi khá căng thẳng. Tôi nằm một lúc rồi ngồi dậy thiền. Tôi học thiền từ lâu rồi, theo cuốn sách về khí công mà đồng chí Lý Ban (sau này là thứ trưởng Ngoại thương) cho tôi. Suốt sáu năm tù tôi đều tập, nó làm cho tôi bình tĩnh lại và giữ được sức khỏe. Bọn gác theo dõi cả đêm. Tôi tập đến lúc mệt mới thôi. Một hôm, có thằng đến hỏi:- Tên ông là gì?- Các ông giữ căn cước của tôi còn hỏi. Tôi là Trí.- Không phải, ông nói láo. Đó là giấy giả. Tên ông là H.G.H.G. chính là tên tôi thường ký trong các báo cáo. Hay là bể đường dây, giao thông bị bắt khai ra? Mấy ngày sau tôi có quan sát xung quanh. Ở nhà ngang phía sau phòng tôi có phòng giam anh em, trong đó tôi có thoáng thấy một số cán bộ cùng hoạt động với tôi. Buổi tối các anh ấy thường chơi cờ. Một lần khi xin đi vệ sinh, tôi liều tạt thẳng vào. Có một anh nói ngay, thằng Ba nó chỉ bắt anh, nó phản rồi đấy anh ạ. Rồi giơ tay chỉ cho tôi một căn phòng. Đó chính là căn phòng hễ cứ tôi ra là nó đóng cửa phòng ấy lại. Tôi vờ kêu lên mấy câu, chợt nghe tiếng anh Ba, người đã cùng bị bắt với tôi khi gặp nhau ở Gò Vấp. Anh ta kêu lên: “Các bố mở giùm cửa ra chứ nhốt mãi chịu sao được”. Bọn địch ở đây nói tiếng miền Trung. Tôi chợt nghĩ: mình dính bọn thằng Cẩn rồi, không thể bịa ra một bản cung đánh lừa chúng được, chỉ còn con đường đấu tranh trực diện”.“Trước khi bị bắt, tôi đã nhận được hai bức điện của Xứ ủy dặn: Hãy cẩn thận. Ngưng liên hệ với Trung ương và ngoài Trung vì có bể bạc lớn. Có lệnh mới được liên lạc lại. Tôi được biết, ở khu Năm có cơ sở bị xóa trắng toàn bộ. Có những nơi đồng chí ta bị bắt gần hết. Quân của Cẩn phá căn cứ Ba Lòng tàn khốc lắm, thậm chí sau khi đã phá nát nó còn cho người đi kiểm tra, gặp một bé trai sống sót nó cũng giết nốt. Lại còn vụ ở Quảng Nam, đập Vĩnh Trinh... Tư tưởng sẵn sàng chết là có từ đấy, khi tôi nghe giọng nói của bọn công tác đặc biệt miền Trung.”Dương Văn Hiếu, tu xuất, sau làm giám đốc Cảnh sát đặc biệt, lúc đó đang là Trưởng ty Công an Thừa Thiên. Hắn là một trong số trưởng ty công an đầu tiên do Mỹ đào tạo trở thành Trưởng đoàn Công tác đặc biệt miền Trung của Ngô Đình Cẩn. Một hôm, Hiếu cùng tên Khanh, một tên chuyên phụ trách việc bắt bớ của Nha Cảnh sát đặc biệt ngụy quyền Sài Gòn (kẻ đã bắt tôi), tới gặp tôi:- Chúng tôi tới thăm sức khỏe ông.Tôi im lặng. Nó nói tiếp:- Ông đừng có hy vọng, không trốn được, cũng không tự tử được đâu. Ông bị theo dõi 24/24. Làm gì chúng tôi biết ngay.Tên Hiếu đi lại, thủng thẳng:- Ông không biết tôi đâu. Nhưng tôi rất biết ông. Ông và ông Bùi Lâm là người lãnh đạo Tòa án quân sự Quân khu Ba mà. Anh em bị bắt rất ca ngợi ông. Họ phục ông lắm.Bọn chúng rất cáo già, cấn thận trong từng câu nói, cả cách xưng hô. Chúng không dùng đại từ gì khác ngoài từ “ông” và “anh” khi nói chuyện với tôi. Kể cả lúc tức tối. Dương Văn Hiếu vốn là người Hà Nam, việc nó biết tôi và anh Bùi Lâm chẳng có gì lạ.Tôi cứ im lặng xem nó giở bài gì. Nó nói tiếp:- Cậu Hội cao phục ông lắm.Hội là tên người liên lạc, rất giỏi và ngoan cường, đòn tra không ăn thua. Thời kháng chiến chống Pháp, Hội nổi tiếng dũng cảm đánh bọn đặc vụ Quốc dân Đảng.Thấy tôi im lặng, chợt nó hỏi:- Ông có phải tên Hương không? Tôi nghĩ đã đến lúc đấu tranh trực diện nên trả lời:- Đúng. Tôi là Hương. Các ông muốn gì? Dù ông muốn gì, tôi cũng nói trước cho các ông biết: người cách mạng bị bắt có ba việc không làm: không khai báo, không nói xấu cách mạng, không nói xấu Chính phủ Cụ Hồ. Còn các ông muốn làm gì thì làm. Tôi biết, tôi bị bắt, các ông có quyền hành hạ, không cho ăn, không cho, xin lỗi, ỉa, nhưng tôi nói trước là tôi không khai.Hai đứa nhìn nhau bất ngờ. Trao đổi vài câu, chúng bỏ về.Ông Mười Hương ngầm liên hệ được với anh Hoàng - trưởng nhóm tình báo Thừa Thiên khu Năm cũng bị bắt nhốt ở trại Vân Đồn. “Tôi bí mật viết thư nói rõ thái độ của mình cho anh ấy: “Tôi bị bắt chắc chết thôi. Thế nào chúng nó cũng biết. Nhờ anh nhắn cho vợ con tôi. Tôi chết thanh thản và trong sáng”.. Anh ấy viết trả lời cho biết là anh không khai gì về tôi cả, chỉ nói là có lần gặp ở bùng binh (đường Nguyễn Văn Cừ bây giờ thì phải). Anh dặn tôi: “Cố gắng sống. Cách mạng cần anh nhiều. Cẩn sẽ đưa anh ra Huế đấy, hắn rất muốn gặp anh”. Cẩn có nói với tay chân, thái độ anh này mà giống Tư Lung thì toa giết ngay thôi, tao không chịu được.”Tôi nghi ngờ, không biết sự thực sẽ như thế hay không, hay là địch tìm cách bắn tiếng để “tâm lý chiến” tôi.***Đoàn công tác đặc biệt miền Trung của Ngô Đình Cẩn tự coi là “đoàn thể cách mạng Quốc gia”, không chịu sự chi phối, điều hành của nhà nước và luật pháp. Là một thứ công cụ chuyên chế bất hợp pháp nhưng quyền hành của nó bao trùm lên chính thể, bao trùm lên luật pháp nhờ uy thế của gia đình họ Ngô, để bảo vệ chính quyền Diệm - Nhu. Toàn bộ nhân viên của Đoàn công tác đều đồng thời là gia nhân của Cẩn, hành động theo chỉ thị - phần lớn là khẩu lệnh - của Cẩn. Sào huyệt gốc của Đoàn công tác đặc biệt miền Trung là cơ quan đặc biệt đóng tại Tòa Khâm. Tòa Khâm sứ Huế cũ lúc này biến thành một nhà tù lớn làm nhiệm vụ cải tạo, chuyển hướng cán bộ Cộng sản bị bắt. Ngoài ra còn có các cơ sở lao động khổ sai như vườn cam, nhà mát ở Cửa Thuận và đặc biệt là Trại giam ở Chín Hầm (gần lăng Gia Long), nơi cầm cố để thủ tiêu những người Cộng sản kiên cường không chịu khuất phục.Đưa ông Mười Hương ra Huế, bọn chúng nhốt ông ở trại Tòa Khâm nhưng chúng để ông ở chung phòng với một người tên Th., trước là cán bộ kinh tài của ta ở Khu Năm, nay chuyển hướng, hợp tác với địch. Nhiệm vụ của người này là phân tích, lung lạc ông Mười. Luận điệu như sau:“Các anh theo kháng chiến giành độc lập, có công lớn với đất nước. Đường lối cách mạng miền Nam bây giờ bế tắc, Đảng không cho đấu tranh vũ trang. Cứ đấu tranh hòa bình với hai bàn tay trắng, địch đàn áp, ruồng bố, rồi ai cũng bị bắt thôi. Không có đường thoát. Tụi em với Đạt, Phó Bí thư Thừa Thiên, bị bắt, ông Cẩn cũng thừa nhận mình là người kháng chiến có công. Bây giờ đối đầu với họ không được. Phải làm lại cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở miền Nam. Ta cứ về với chính quyền hợp thức để khỏi bị tiêu diệt, rồi lượng đổi chất sẽ đổi”...Ông Mười Hương: “Các anh khi ở ngoài đời đi hoạt động không đóng góp được ý kiến, nay vào tù, hai chân vô còng mới xem xét đường lối là nghĩa lý gì? Lúc anh đi kháng chiến, theo Đảng là tự giác ngộ, tự anh làm chứ có ai gí súng vào lưng bắt anh làm không? Đảng không ép gì ta. Đừng trách Đảng. Con đường tranh đấu chông gai, hãy tự mình xử sự cho đúng.”Đây mới chỉ là bước thăm dò, “lấy chim cu bẫy chim cu”, bọn địch dùng tụi đầu hàng lải nhải làm căng thẳng.“Tôi ở một phòng tối. Nhờ vào hai lần bữa ăn để biết đã qua ngày. Nó đưa tôi cùng ngủ với anh Th. Nhiệm vụ của anh này canh xem diễn biến tư tưởng tôi ra sao, có ăn, ngủ được không. Có lần tôi lén xem được sổ gác nhận xét: Ăn ngủ bình thường. Tập bình thường - tắm - ngủ. Gần một tháng như thế, chưa thấy nó đánh. Có báo đọc. Những cán bộ chuyển hướng kia cứ đến nói thế. Tôi cứ ôn tồn như thế.Anh Th., sau này cũng bị đưa về Bình Định và đã nhận thấy sai lầm khi chuyển hướng nhưng đã muộn, sau anh bị địch tra tấn suốt một năm cho đến chết. Trong thời gian ở trại Tòa Khâm, ông Mười Hương chỉ nghĩ: “Khổ nhất là phải tìm chuyện gì để suy nghĩ để sống còn, có ý nghĩa, ích lợi. Nó sẽ làm cho tư duy mình lớn lên. Tôi tìm mọi cách để có tin tức, kể cả từ những mẩu giấy báo trong nhà cầu, khi đi đổ bô lén lấy về coi.”Sáu năm ở trong nhà tù mật vụ miền Trung, cái khó của ông Mười Hương không phải là những đòn tra khảo mà là đối phó với “chính sách” của địch. Hiểu được nó thì mới hiểu vì sao sau này khi đã trở thành Ủy viên Trung ương Đảng, ông Mười Hương vẫn còn khổ vì đơn tố cáo: Tại sao giặc biết ông là cán bộ tình báo cao cấp mà không giết, tại sao ông lại được thả?Ngày ông Mười Hương bị đưa ra nhà tù Tòa Khâm Huế bằng máy bay Dakota nhà binh, ông chưa biết được những gì đang chờ đón mình. Mà biết làm sao được! Mãi tới năm 1989, hơn 30 năm sau, nhóm cựu tù nhân chính trị họp mặt để phân tích về giai đoạn ấy họ vẫn cho là chưa ai phục chế “một mảng trống lịch sử bị bỏ rơi, quên lặng. Họ cho rằng chế độ mật vụ Ngô Đình Cẩn - Dương Văn Hiếu là một ngành an ninh đích thực nhưng là một siêu tổ chức với nhiều đặc thù không có bộ máy nào của Ngụy so sánh được”. Trong nhà tù không song sắt này, công an mật vụ của tụi nó cùng với người tù sinh hoạt chung. “Chuyện khó tin mà có thật và chỉ có được trong thời điểm lịch sử nhất định”. Những người tù ấy có một đặc điểm là họ trưởng thành trong chín năm kháng chiến chống Pháp, là những người đã kết liễu chế độ thực dân cũ, bước vào giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến đấu chống chế độ thực dân kiểu mới là đế quốc Mỹ.Trong cuốn ký sự không xuất bản của người tù Dư Văn Chất, viết ra với mong muốn xây dựng Đảng, có đề: “Bằng tác phẩm này, tôi muốn nói với Đảng, với người thân và bè bạn, với người yêu và kẻ ghét, nói thay cho người đã chết và cho cả người còn sống.” Nay thì tác giả của tập sách ố vàng, in roneo này cũng không còn nữa. Cuốn sách có tên “Bội phản hay chân chính?” chứa đầy chất liệu sống ấy, đã có vài nét phác thảo về chế độ tù mật vụ miền Trung ấy, đã dựng lại bối cảnh mà chính ông Mười Hương đã trải qua cùng với các bạn tù. Họ đều bị bắt cóc, không có xử án, không có thời hạn.Hãy nghe Thái, tên phụ tá của Đoàn công tác đặc biệt miền Trung, nói với người tù Dư Văn Chất: “... Chúng tôi không như bên công an đâu... Chúng tôi không cần bằng chứng để buộc tội, để làm cung, để tư tòa, kêu án. Một là chấp nhận chính sách, về hợp tác với chúng tôi. Hai là không có ngày về với gia đình. Anh muốn chọn đường nào?”“Chính sách” mà hắn nói đây là gì? Nếu hiểu được điều này, có thể thấy được sự cam go hơn cả đòn tra và hiểu được những người như anh Th. Người bị bọn chúng đưa đến mong lung lạc ông Mười song anh không chịu chuyển hướng. Vừa bước vào phòng giam ông Mười Hương, anh ta tự giới thiệu trước làm tòa sứ Buôn Mê Thuột. Anh nói: “Tôi có quen các anh, trong đó được anh Nguyễn Chí Diểu giáo dục nhiều. Chúng giao tôi đến đây định làm con chim mồi nhử anh nhưng anh yên tâm, tôi không làm vậy đâu”.Khi thảo luận với nhau, ông Mười Hương khẳng định không thể lợi dụng “chính sách” của Diệm - Nhu được.Trích lời tác giả Dư Văn Chất nói về mật vụ miền Trung:“Thay vì chúng nói thẳng: khai, phản, làm cho người tù còn chút lương tâm dễ bị sốc, còn biết tự trọng dễ mắc cỡ, chúng dùng toàn mỹ từ: chuyển hướng, thay cho đầu hàng; trình bày thay cho khai báo; hợp tác thay cho phản bội... những từ dịu hiền, đẹp đẽ đó vuốt ve lòng người đang bị rúng ép khiếp sợ.”Chính sách của chúng lúc đó là lợi dụng phong trào cách mạng đang khó khăn, chúng kết hợp thủ đoạn cứng rắn với lừa gạt, dụ dỗ, tấn công tư tưởng người bị bắt làm họ luôn phải căng thẳng, đưa dần họ vào con đường phản bội từng bước và không thể quay lại với cách mạng. Chúng gọi là chính sách “qua cầu rút ván”. Tổ chức thực hiện chính sách này là Đoàn công tác đặc biệt miền Trung.Trong cuốn sách của tác giả Dư Văn Chất: “Đoàn công tác đặc biệt miền Trung gồm hai thành phần: cán bộ quốc gia và cán bộ kháng chiến chịu chuyển hướng. Đoàn được cố vấn Ngô Đình Cẩn tổ chức như một đoàn thể cách mạng quốc gia do chính cố vấn chỉ đạo trực tiếp. Nó không chịu sự chi phối, điều hành của bất kỳ một cơ quan nhà nước hay đoàn thể chính trị nào hết. Đó là một tổ chức siêu chính phủ, siêu đảng phái - không có hệ thống ngành dọc, ngành ngang, cấp trên và chân rết địa phương... nhưng bất cứ ở ngành nào cần, hoặc địa bàn nào cần có sự hiện diện của nó là nó có mặt. Nó không có quy định giới hạn hoạt động, vì thế phạm vi và quyền hạn hết sức rộng rãi, hoạt động hết sức linh hoạt. Nó không phải cơ quan nhà nước nên không bị pháp luật chi phối. Nhưng nó lại được sử dụng mọi hình thức hợp pháp với quyền lực cao nhất... Đoàn vào Sài Gòn hoạt động với nhiệm vụ chuyên sâu: “Mời” cấp ủy liên khu Năm và tình báo chiến lược về với Quốc gia.”Chính vì có mưu đồ sử dụng những người kháng chiến nên chúng dùng thủ đoạn đặc biệt: đầu hàng, chuyển hướng thì tin dùng; còn nếu kiên trung lý tưởng Cộng sản thì chúng tha hồ thủ tiêu, không cần án xử. Chính ông Mười Hương sau này mới biết mình có tên trong 200 người bị đi thủ tiêu nhưng địch không kịp thi hành.