Trần Quý Khoáng
Trần Quý Khoáng (?– 1414) tức là Trùng Quang Đế, là vị vua thứ hai và cũng là vị vua cuối cùng của nhà Hậu Trần, triều đại kháng chiến chống sự đô hộ của nhà Minh sau năm 1407. Ông là cháu nội vua Trần Nghệ Tông, con của Trang Định vương Trần Ngạc.
Năm 1407, nhà Hồ sụp đổ, nước ta rơi vào tay nhà Minh. Giữa cảnh lầm than, các tôn thất nhà Trần đã đứng lên khôi phục cơ đồ. Khi Giản Định Đế dựng nhà Hậu Trần, Trần Quý Khoáng giữ chức Nhập nội thị trung. Năm 1409, sau khi Giản Định Đế giết các công thần Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, hai tướng Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị bất bình, lập Trần Quý Khoáng lên ngôi tại Nghệ An, lấy niên hiệu là Trùng Quang
Cái tên "Trùng Quang" mang ý nghĩa là "ánh sáng trở lại", thể hiện khát vọng phục hưng một vương triều đã từng rực rỡ. Ông phong: Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã.
Trùng Quang sai quân bắt Giản Định Đế, nhưng sau đó thân chinh nghênh đón, tôn làm Thái thượng hoàng. Khi xảy ra âm mưu nổi loạn của phe Hát Giang, nhà vua chỉ xử tử thủ lĩnh, tha quân lính, được sử thần đánh giá là khoan dung, có đức độ lãnh đạo hơn Giản Định.
Nhà Minh muốn đánh chiếm Đại Việt lâu dài nên năm 1410, Tổng binh Trương Phụ sai quân mở đồn điền ở địa bàn Tuyên Quang, Thái Nguyên, Tam Giang tạo lương thực cho quân, lại cấp ruộng đất cho các thổ quan đầu hàng để họ thu tô thay cho bổng lộc, cấp ruộng đất cho quân đội để cày cấy lấy lương thực. Ngoài ra, Trương Phụ thực hiện chính sách đàn áp rất tàn bạo để khủng bố tinh thần người Việt, như Đại Việt Sử ký Toàn thư thuật lại:
"Phụ đi đến đâu, giết chóc rất nhiều, có nơi thây chất thành núi, có chỗ moi ruột quấn vào cây, hoặc rán thịt lấy mỡ, hoặc nướng đốt làm trò, thậm chí có đứa mổ bụng lấy thai, cắt lấy hai cái tai để nộp theo lệnh. Kinh lộ các nơi lần lượt đầu hàng. Những dân còn sót lại bắt hết làm nô tỳ và bị đem bán, tan tác khắp bốn phương cả".
Trùng Quang Đế là một vị vua có thực lực. Dưới sự phò tá của các danh tướng như Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị, ông đã lãnh đạo quân dân đánh nhiều trận vang dội: Quân Hậu Trần kiểm soát được các vùng từ Thanh Hóa trở vào Thuận Hóa. Đặng Dung từng suýt bắt sống được tướng giặc là Trương Phụ. Đáng tiếc, vì không biết mặt Phụ nên để hắn trốn thoát trên một chiếc thuyền nhỏ.
Đại Việt Sử ký Toàn thư thuật lại:
“Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không? Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang, vì sao vậy?
Bọn Dung vì nghĩa không thể cùng sống với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng, hết sức giúp đỡ Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mới chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!”
Dù kiên cường, nhưng sức cùng lực kiệt, nhà Hậu Trần dần thất thế trước sự tiếp viện ồ ạt của quân Minh. Năm 1413, Trương Phụ đánh vào Thuận Hóa, Trùng Quang Đế cùng các tướng phải rút vào rừng núi rồi lần lượt bị bắt.
Tháng 4 âm lịch năm 1414, Trương Phụ thu quân về Đông Quan, sai người giải vua Trùng Quang, Đặng Dung và Nguyễn Súy về Trung Quốc bằng đường biển. Giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống biển tự tử. Hai tể tướng Đặng Dung, Nguyễn Súy sau đó cũng đều nhảy xuống biển. Tuy nhiên, theo Hoàng Minh thực lục, ngày 16 tháng 8 năm 1414, Trùng Quang Đế và các tướng lĩnh trong đó có Đặng Dung đều bị giải tới Yên Kinh và xử tử.
Trùng Quang Đế là vị vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam chọn cái chết oanh liệt khi chống ngoại xâm thất bại. Dù không thể xoay chuyển được bánh xe lịch sử để khôi phục nhà Trần, nhưng ông đã viết nên một kết thúc kiêu hãnh cho một vương triều đã từng viết nên những trang sử lẫy lừng.



