Khác

TRẦN TẤN CÔNG – TRẬN ĐÁNH GIẢI PHÓNG BẢO LỘC NGÀY 28 THÁNG 3 NĂM 1975

Phú Thọ25/09/2026Văn Đình Long (Đoàn phường Phong Phú)8 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối tháng 3 năm 1975, sau những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường Tây Nguyên, thời cơ giải phóng Lâm Đồng đã đến. Ở phía Nam Tây Nguyên, Bảo Lộc – tỉnh lỵ Lâm Đồng cũ – trở thành một trong những mục tiêu quan trọng. Trong trận đánh ấy, người cán bộ mang bí danh Sáu Công – Trần Tấn Công – có nhiệm vụ phối hợp lực lượng địa phương với bộ đội chủ lực mở đường tiến vào Bảo Lộc.

Ngày 10/3/1975, khi chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu bằng trận Buôn Ma Thuột, Trần Tấn Công được Khu ủy và Quân khu ủy triệu tập về khu vực sông Đồng Nai để nhận nhiệm vụ.

Khi ấy, ông là Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng Tỉnh đội Lâm Đồng.

Nhiệm vụ đặt ra là chuẩn bị lực lượng, đường cơ động, hậu cần và phối hợp với Sư đoàn 7 để tiến công giải phóng Bảo Lộc.

Phía trước là một mục tiêu không dễ dàng.

Tại Bảo Lộc, đối phương tập trung một lực lượng lớn với các đơn vị bảo an, pháo binh, công binh, cảnh sát, thiết giáp và máy bay.

Muốn đưa pháo binh và bộ đội chủ lực đến gần Bảo Lộc, trước hết phải mở đường.

Trong những ngày chuẩn bị chiến dịch, lực lượng địa phương và nhân dân được huy động mở các tuyến đường phục vụ chiến đấu.

Một tuyến từ Đạ Tẻh lên Lộc Bắc để đưa pháo vào trận địa.

Một tuyến khác vận chuyển vũ khí, lương thực từ khu vực Đạ Lây lên hướng Xóm Mới.

Đặc biệt, chỉ trong khoảng một tuần, dân công các xã thuộc căn cứ phía Bắc đã phối hợp với lực lượng cơ giới mở một tuyến đường dài khoảng 32km, đưa hai khẩu pháo 130mm từ Tà Lài lên khu vực trận địa.

Đó là một công việc tưởng như không thể thực hiện trong điều kiện rừng núi và chiến tranh.

Nhưng từng mét đường được mở.

Từng khẩu pháo được kéo đi.

Từng bao gạo, từng viên đạn được chuyển về phía trước.

Đằng sau những đơn vị chuẩn bị trận đánh là hàng nghìn ngày công của người dân.

Đến ngày 26/3/1975, công tác chuẩn bị cơ bản hoàn tất.

Chiều 27/3, mệnh lệnh tiến công được phát đi.

Khoảng 14 giờ, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 209 nổ súng đánh chiếm Chi khu Đạ Huoai. Cùng thời điểm, Đại đội 11 của Tiểu đoàn 6 phối hợp với xe tăng tiến công đồn Mađagui.

Sau khi làm chủ Đạ Huoai, bộ đội tiếp tục đánh chiếm và bảo vệ các cây cầu quan trọng để đội hình chủ lực tiến lên.

Các đồn bốt trên đường tiến quân lần lượt bị đánh chiếm.

Đội hình cơ giới vượt qua đèo Bảo Lộc.

Mục tiêu cuối cùng hiện ra phía trước:

Rạng sáng ngày 28/3/1975, pháo binh bắt đầu dồn dập bắn vào các mục tiêu trong thị xã.

Hai khẩu pháo 130mm từ trận địa trên hướng dốc Con Ó liên tiếp đánh vào khu vực sân bay và Tòa Tỉnh trưởng.

Hỏa lực mạnh khiến hệ thống phòng thủ của đối phương nhanh chóng rối loạn.

Trong khi đó, các lực lượng địa phương tiến công từ nhiều hướng, phối hợp với lực lượng chủ lực từ bên ngoài.

Thế trận hình thành theo đúng yêu cầu:

Ở bên ngoài, Trung đoàn 209 cùng các đơn vị phối thuộc tiến về Bảo Lộc.

Ở bên trong, lực lượng cơ sở và quần chúng cách mạng chuẩn bị nổi dậy, bảo vệ các cơ sở quan trọng và hỗ trợ lực lượng giải phóng.

Khoảng 6 giờ sáng ngày 28/3, bộ binh, xe tăng và pháo binh đồng loạt tiến công thị xã B’Lao.

Các mũi quân tiến nhanh vào những vị trí then chốt.

Lực lượng đối phương tan rã nhanh chóng.

Đến khoảng 8 giờ 30 phút, thị xã B’Lao được giải phóng.

Nhưng trận đánh chưa dừng lại.

Ngay sau khi B’Lao được giải phóng, lực lượng ta nhanh chóng tổ chức truy kích về hướng Di Linh.

Tin Bảo Lộc thất thủ khiến lực lượng đối phương tại Di Linh dao động mạnh.

Đại đội 5 trinh sát Quân khu 6 phối hợp với lực lượng địa phương chớp thời cơ đánh chiếm Chi khu và quận lỵ Di Linh, đồi Pasteur.

Đến 31/3/1975, Di Linh được giải phóng.

Trong những câu chuyện về ngày Bảo Lộc được giải phóng, Trần Tấn Công không phải là người duy nhất làm nên trận đánh.

Phía sau ông là cả một hệ thống lực lượng:

Bộ đội chủ lực.

Lực lượng vũ trang địa phương.

Cán bộ cơ sở.

Dân công.

Nhân dân các dân tộc.

Những người mở đường.

Những người kéo pháo.

Những người vận chuyển lương thực, đạn dược.

Và những người âm thầm giữ cơ sở cách mạng trong lòng thị xã.

Chiến thắng Bảo Lộc là kết quả của sự phối hợp giữa các lực lượng ấy.

Ngày 28/3/1975, tỉnh Lâm Đồng cũ hoàn toàn được giải phóng.

Sau đó, Bộ Chỉ huy tiền phương Khu ủy và Quân khu 6 tiếp tục tổ chức tiến công về hướng Tuyên Đức – Đà Lạt.

Ngày 3/4/1975, lực lượng giải phóng tiến vào Đà Lạt.

Lúc 8 giờ 20 phút, cờ cách mạng tung bay tại cơ quan đầu não của chính quyền cũ ở Đà Lạt; thành phố Đà Lạt và tỉnh Tuyên Đức hoàn toàn được giải phóng.

Như vậy, chỉ trong vài ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, từ Bảo Lộc đến Di Linh, rồi từ Đức Trọng lên Đà Lạt, vùng đất Nam Tây Nguyên lần lượt được giải phóng.

Ngày 28/3/1975, B’Lao bước sang một trang lịch sử mới.

Trong ký ức của những người từng tham gia trận đánh, đó không chỉ là ngày một tỉnh lỵ được giải phóng.

Đó còn là ngày những con đường đã mở trong rừng, những khẩu pháo đã vượt núi, những đoàn quân đã tiến qua Đạ Huoai, Mađagui, đèo Bảo Lộc và những người dân âm thầm giữ cơ sở trong lòng thị xã cùng gặp nhau tại một thời khắc lịch sử.

Trần Tấn Công – Sáu Công – là một trong những người có mặt trong hành trình ấy.

Từ mệnh lệnh nhận tại sông Đồng Nai ngày 10/3, qua những ngày chuẩn bị đường, chuẩn bị pháo, chuẩn bị lực lượng, đến buổi sáng 28/3 khi B’Lao được giải phóng, ông đã chứng kiến một trong những bước ngoặt quan trọng của chiến trường Lâm Đồng.

Và rồi, từ Bảo Lộc, những đoàn quân tiếp tục tiến về Đà Lạt.

Ngày 3/4/1975, Lâm Đồng – Đà Lạt hoàn toàn giải phóng.

Một chặng đường chiến đấu khép lại.

Một trang sử mới mở ra.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn