Trận tập kích sân bay Thành Sơn năm 1969
Một năm sau trận đánh năm 1968, Huỳnh Phước tiếp tục chỉ huy lực lượng đặc công tiến công sân bay Thành Sơn, nhưng trước sự chống trả quyết liệt của đối phương, ông đã chủ động tổ chức lực lượng chiến đấu và rút lui để bảo toàn quân số.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Phước, sinh năm 1949, hy sinh năm 1975, quê quán xã Phước Hữu, tỉnh Khánh Hòa tham gia cách mạng tại địa phương từ khi còn nhỏ và sau này chiến đấu trong các đơn vị đặc công 311 và Tiểu đoàn 200C, Quân khu VI.
Sau trận tập kích sân bay Thành Sơn năm 1968, cái tên Thành Sơn tiếp tục xuất hiện trong những nhiệm vụ chiến đấu của lực lượng đặc công Ninh Thuận. Qua lời kể của ông Huỳnh Văn Phương, em trai ông Huỳnh Phước, năm 1969, ông Phước một lần nữa được giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng tiến công sân bay này. Tuy nhiên, lần này cách tổ chức lực lượng và diễn biến trận đánh có nhiều điểm khác so với năm trước.
Lực lượng đặc công được chia thành hai cánh. Cánh chủ yếu có 25 chiến sĩ, chia thành ba mũi, đảm nhiệm hướng tiến công chính. Cánh thứ yếu do Đại đội 311 đảm nhiệm, khoảng 20 chiến sĩ, do Huỳnh Phước chỉ huy, có nhiệm vụ đánh vào khu vực nhà ở của phi công và lực lượng hỗ trợ.
Đúng 0 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1969, cả hai cánh đồng loạt tiến vào khu vực sân bay. Tuy nhiên, khi cánh chủ yếu tiến đến gần đường băng thì bị đối phương phát hiện. Từ đây, trận đánh nhanh chóng chuyển sang thế giằng co quyết liệt.
Khu vực sân bay rộng và trống trải, trong khi hệ thống đèn chiếu sáng khiến việc tiếp cận và rút lui trở nên khó khăn. Hỏa lực của đối phương được triển khai mạnh. Một số chiến sĩ trong đội hình bị thương. Trước tình hình đó, Huỳnh Phước vẫn bình tĩnh tổ chức lực lượng chiến đấu và từng bước rút khỏi khu vực nguy hiểm.
Đây là một tình huống khác với trận đánh năm 1968. Khi ấy, lực lượng đặc công đã tạo được yếu tố bất ngờ ngay từ đầu và tiến sâu vào mục tiêu. Còn trong trận đánh năm 1969, đối phương nhanh chóng phát hiện lực lượng tiến công, khiến việc tiếp cận mục tiêu theo kế hoạch ban đầu gặp nhiều khó khăn.
Trong hoàn cảnh đó, Huỳnh Phước không cố giữ đội hình bằng mọi giá. Ông tổ chức cho các chiến sĩ vừa chiến đấu vừa rút dần, nhằm hạn chế tổn thất và giữ lại lực lượng cho những nhiệm vụ tiếp theo. Cách xử trí ấy cho thấy trong chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ không chỉ là tiến công đến cùng mà còn phải biết đánh giá tình hình để bảo toàn lực lượng khi điều kiện không còn thuận lợi.
Trận đánh không đạt được mục tiêu đề ra, nhưng qua đó lực lượng cách mạng có thêm những kinh nghiệm thực tế về cách tổ chức lực lượng, phối hợp giữa các mũi tiến công và lựa chọn phương án tác chiến đối với một mục tiêu được phòng thủ chặt chẽ.
Với Huỳnh Phước, đây tiếp tục là một thử thách trong vai trò người chỉ huy. Nếu trận đánh năm 1968 ghi dấu bằng yếu tố bất ngờ và khả năng thọc sâu vào sân bay, thì trận đánh năm 1969 lại cho thấy một khía cạnh khác: khả năng xử trí khi kế hoạch gặp trở ngại và đối phương đã chủ động phòng bị.
Qua lời kể của ông Huỳnh Văn Phương, chúng tôi nhận thấy những câu chuyện về chiến tranh không chỉ có những trận đánh thắng lợi. Có những trận đánh không đạt được mục tiêu nhưng vẫn để lại những kinh nghiệm quý giá cho những nhiệm vụ về sau. Với người lính, đó cũng là một phần của chiến trường, nơi mỗi quyết định đều phải được đưa ra trong thời gian rất ngắn và giữa nhiều nguy hiểm.
Sau trận tập kích sân bay Thành Sơn năm 1969, Huỳnh Phước tiếp tục được giao những nhiệm vụ mới. Những kinh nghiệm từ các trận đánh trước đó tiếp tục theo ông trong hành trình chiến đấu, để rồi không lâu sau, ông cùng lực lượng đặc công 311 thực hiện một trận đánh khác tại Trung tâm Huấn luyện An Phước.
(Nội dung chính bài viết sử dụng tên của các địa phương cũ, trước khi sáp nhập để phù hợp với lịch sử cũng như giữ trọn lời kể của em trai ông Huỳnh Phước)


