Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Trần Thận

Đồng chí Trần Thận, tên thật là Trần Cát, sinh ngày 12.5.1927, tại làng Bàn Thạch, tổng An Lạc, phủ Duy Xuyên, nay thuộc xã Duy Vinh (Duy Xuyên). Sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, năm 1942, đồng chí Trần Thận được kết nạp vào Đảng và được cử làm Bí thư Chi bộ Bàn Thạch. Năm 1943, ông bị mật thám Pháp bắt và kết án 3 năm tù giam. Trong nhà tù, kẻ thù dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, không hề khai báo. Tháng 3.1945, sau khi quân Nhật đảo chính Phá

Vĩnh Long27/04/2026Xã đoàn Long Thành (Xã đoàn Long Thành)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đồng chí Trần Thận được chỉ định làm Phó Bí thư Huyện ủy, sau đó làm Bí thư Huyện ủy Duy Xuyên. Lúc này, Mỹ - Diệm trắng trợn vi phạm hiệp định, ra sức thực hiện chính sách tố cộng, diệt cộng, thẳng tay bắn giết cán bộ, đảng viên và đồng bào yêu nước. Một số huyện ủy viên và cán bộ rơi vào tay giặc, bị thủ tiêu. Địa bàn đứng chân không còn, phần đông cán bộ phải tìm đường ra miền Bắc hoặc chuyển vùng hoạt động.

Năm 1955, huyện ủy và cán bộ huyện còn không quá 10 người. Với phương châm “Đảng là của dân, cách mạng từ nhân dân”, đồng chí Trần Thận kịp thời chuyển phương thức hoạt động, phân công mỗi cán bộ phụ trách một địa bàn, dựa vào dân để xây dựng cơ sở cách mạng.

Đến năm 1959, cả huyện Duy Xuyên xây dựng được hàng chục chi bộ đảng, lực lượng cách mạng từng bước được phục hồi. Những năm tháng khó khăn ấy, cán bộ, đảng viên và nhân dân Duy Xuyên không thể nào quên hình ảnh đồng chí Bí thư Huyện ủy Trần Thận với bộ quần áo cộc, không có bảo vệ, không cần giao liên, trong những đêm tối trăng vẫn lặng lẽ từ khu Tây dò đường về khu Đông. Ban ngày ở hầm bí mật, ban đêm đến từng nhà, gặp từng người để thuyết phục, vận động gây dựng cơ sở. Nhờ đó, nhân dân càng tin vào Đảng, càng tin vào cán bộ.

Năm 1959, đồng chí vinh dự được Liên khu ủy 5 chỉ định bổ sung vào Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, tiếp tục làm Bí thư Huyện ủy Duy Xuyên kiêm Bí thư Ban cán sự khu Trung của tỉnh. Tiếp đó, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IV (tháng 1.1960), đồng chí Trần Thận được bầu vào Tỉnh ủy, sau đó bổ sung vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy phân công làm Trưởng ban Quân sự tỉnh.

Sau thời gian ra Bắc chữa bệnh và học tập chính trị, đầu năm 1964, đồng chí Trần Thận về lại chiến trường miền Nam, được Khu ủy 5 phân công làm Phó Bí thư Tỉnh ủy phụ trách Chính trị viên Tỉnh đội kiêm Trưởng ban Dân vận - binh vận, đấu tranh chính trị, tuyên huấn. Thời gian này, đồng chí trực tiếp chỉ huy phong trào diệt ác, phá kìm, phá ấp chiến lược, giải phóng nông thôn đồng bằng ở Quảng Đà, mở ra thế và lực mới cho cách mạng.

Tháng 3.1965, quân viễn chinh Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, mở đầu cho chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ Quảng Đà là phải tìm ra cách đánh Mỹ.

Trong một hội nghị mở rộng của Tỉnh ủy, đồng chí Trần Thận khẳng định quyết tâm của toàn Đảng bộ: “Chưa giải phóng miền Nam thì còn đánh, chiến tranh gì cũng đánh, đối tượng nào cũng đánh, đông bao nhiêu cũng đánh và lâu dài bao nhiêu cũng đánh... Chúng ta có nhiệm vụ đánh Mỹ trước tiên bằng hai chân, ba mũi giáp công để đóng góp kinh nghiệm cho toàn miền và góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ”.

Từ quyết tâm đó, phong trào chiến tranh nhân dân ở Quảng Đà phát triển rộng khắp, ba mũi giáp công được kết hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp góp phần cùng quân và dân miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Thực tế ấy càng chứng minh đồng chí Trần Thận là người lãnh đạo có tầm nhìn toàn diện, có thái độ dứt khoát, năng động, sáng tạo.

Tháng 1.1971, đồng chí Trần Thận được Khu ủy 5 cho ra miền Bắc điều trị bệnh. Năm 1972, đồng chí Trần Thận trở lại chiến trường miền Nam, được phân công Phó Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà và đến cuối năm 1972, làm Bí thư Đặc khu ủy thay cho đồng chí Hồ Nghinh. Ngày 27.1.1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, quân Mỹ phải rút quân về nước.

Đồng chí Trần Thận thường dặn cán bộ "không được dễ ngươi với địch” và luôn giữ thái độ kiên quyết bảo vệ cho đấu tranh vũ trang đến cùng, chấp nhận mọi hình thức kỷ luật, bởi ông xác định chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng và lợi ích của nhân dân là danh dự của người đảng viên, người lãnh đạo.

Điều băn khoăn đó của ông cũng được giải tỏa khi Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21, khẳng định cách mạng miền Nam không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng bạo lực, tiến tới đánh bại kẻ thù, giành chính quyền về tay nhân dân. Một lần nữa, suy nghĩ, quyết tâm của ông lại đúng, được hiện thực hóa bằng chính chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn