Trần Thánh Tông - Hoàng đế 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược
Trần Thánh Tông - là Hoàng đế Đại Việt góp mặt trong cả 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược từ năm 1258 - 1288. Lần thứ nhất năm 1258 ông cùng với vua cha Trần Thái Tông tiến quân đón giặc ở Đông Bộ Đầu. Lần thứ hai, ông là Thái Thượng Hoàng đã cùng với con trai trưởng là Trần Khâm (tức vua Trần Nhân Tông) tham dự hội nghị các tướng lĩnh ở Bình Than đốc thúc quân đội chuẩn bị kháng chiến và tại đây ông đã giao quyền chỉ huy quân đội cho Trần Quốc Tuấn. Sau đó thượng hoàng Thánh Tông cũng tổ chức hội nghị các bô lão ở điện Diên Hồng để nâng cao tinh thần chiến đấu toàn dân. Vượt qua mọi gian khó ông cùng với quân sỹ thực hiện cuộc rút lui chiến lược bảo toàn lực lượng và mở cuộc tiến công diệt giặc ở phủ Trường Yên, sau đó đã đại phá 50 vạn quân Nguyên Mông trong lần kháng chiến thứ hai. Trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, Thượng hoàng Thánh Tông cùng với con trai là vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo đã lãnh đạo quân và dân tiếp tục cuộc kháng chiến vĩ đại. Trong trận chiến cuối cùng trên dòng sông Bạch Đằng, ông cùng các tướng lĩnh đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng nổi tiếng trong lịch sử dân tộc – một trận thủy chiến lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông là vị vua trí cao, nhân cách lớn, sống nhân từ, bao dung, trung hậu, luôn lấy nhân nghĩa làm đầu. Ông làm vua vì nước, vì dân, vì sự vững bền cơ nghiệp nhà Trần. Ông thương dân, tin quý các vương hầu, tôn vinh người hiền tài, trọng kẻ sĩ, làm nên sự nghiệp vĩ đại của dân tộc, đánh đuổi giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước hưng thịnh.
Trần Thánh Tông (tên thật là Trần Hoảng 12 tháng 10 năm 1240 – 3 tháng 7 năm 1290) là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Trần nước Đại Việt, trị vì từ ngày 30 tháng 3 năm 1258 đến ngày 8 tháng 11 năm 1278. Sau đó ông làm Thái thượng hoàng từ cuối năm 1278 cho đến khi qua đời năm 1290. Ông thường được sử sách mô tả là một Hoàng đế tài giỏi, giữ vững được cơ nghiệp của triều đại và nền độc lập của quốc gia.
Trần Hoảng là đích trưởng tử của Trần Thái Tông, đã góp phần chỉ huy quân đội đẩy lùi cuộc xâm lược của người Mông Cổ năm 1258. Không lâu sau kháng chiến thắng lợi, Hoàng đế Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Hoảng, tức Hoàng đế Thánh Tông.[3] Trong thời kỳ cầm quyền của mình, Trần Thánh Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm hoàn thiện nền hành chính, giáo dục, kinh tế, bảo trợ Phật giáo, trọng dụng quan viên, tướng lĩnh có tài và duy trì sự hòa hợp, kỷ cương trong triều đình.[4][5] Về đối ngoại, Trần Thánh Tông phải đương đầu với tham vọng bành trướng của đế quốc Nguyên-Mông cường thịnh ở phương Bắc. Ông đã thực thi một chính sách ngoại giao mềm mỏng, cống nạp Nhà Nguyên 3 năm 1 lần, nhưng cự tuyệt mọi yêu sách của vua Nguyên đòi ông cống người, cống voi, đích thân sang chầu, gửi quân giúp tỉnh Vân Nam, nộp sổ sách dân số... Ngoài ra ông tích cực chỉnh đốn quân đội, tổ chức tuần tra biên giới để đề phòng sự xâm lược của người Nguyên.


