Trần Thị Lý - Đóa hướng dương kiên cường bên dòng Nhật Lệ
Bước ra từ làng quê nghèo bên dòng sông Lũy, nữ anh hùng Trần Thị Lý đã dệt nên một huyền thoại bằng lòng quả cảm vô song giữa tọa độ lửa Đồng Hới. Không chỉ kiên cường trong mưa bom bão đạn, cuộc đời bà còn là một chuỗi những câu chuyện lay động lòng người về tình yêu quê hương, những kỷ niệm thiêng liêng bên Bác Hồ và một mối tình son sắt, giản dị thời chiến
Nữ anh hùng Trần Thị Lý cất tiếng khóc chào đời trong một gia đình nghèo khó ven dòng sông Lũy – một nhánh nhỏ của dòng Nhật Lệ huyền thoại, thuộc làng Phú Thượng, xã Phú Hải, thị xã Đồng Hới. Ngay từ thuở thiếu thời, với nét tính cách lanh lợi, hoạt bát cùng tinh thần trách nhiệm cao với tập thể, bà đã sớm được tin tưởng giao phó trọng trách làm giao liên cho Đảng ủy và Xã đội. Vào tháng 2 năm 1965, khi vừa tròn 19 tuổi và mới đứng vào hàng ngũ của Đảng được một năm, bà chứng kiến đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc, lấy thị xã Đồng Hới làm tọa độ đánh phá mở màn. Giữa lúc Phú Hải trở thành ranh giới nóng bỏng của chiến sự, cô gái trẻ Trần Thị Lý đã tình nguyện gia nhập lực lượng dân quân, đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ phòng không kiên cường bảo vệ bầu trời nam Cầu Dài.
Trong những trận đối đầu nghẹt thở nhằm đánh trả máy bay phản lực của kẻ thù, người con gái Phú Hải đã bộc lộ bản lĩnh kiên định và lòng quả cảm xuất sắc. Bất chấp mưa bom bão đạn, bà thoăn thoắt chạy từ trận địa phòng không này sang trận địa khác để kịp thời truyền đạt mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên, đồng thời tự tay chắc súng trường K44 nổ súng đánh trả máy bay Mỹ đầy kiên cường. Không dừng lại ở đó, bà còn tự tay đào bới những căn hầm bị sập, giành giật từng sự sống của đồng đội và đồng bào bị đất đá vùi lấp sau các đợt bom.
Đỉnh điểm là ngày 4 tháng 4 năm 1965, khi địch huy động hàng trăm lượt máy bay ồ ạt dội bom xuống Cầu Dài hòng san phẳng thị xã Đồng Hới. Giữa vòng vây lửa đạn, Trần Thị Lý đã mưu trí, dũng cảm chèo đò đưa Bí thư Đảng ủy xã Lê Viết Thuật vượt dòng sông dữ để trực tiếp chỉ đạo nhân dân và lực lượng dân quân chiến đấu, rồi quay trở lại trận địa một cách an toàn. Trong một lần bị bom nổ vùi lấp dưới hố sâu, bà vẫn giữ được sự bình tĩnh phi thường, kịp thời cởi chiếc áo ngoài khoác lên đầu súng để bùn đất không làm kẹt nòng, trước khi tự mình bươn bả nhô lên khỏi mặt đất để tiếp tục nổ súng tiến công kẻ thù.
Với những chiến công hiển hách ấy, ngày 1 tháng 1 năm 1967, bà vinh dự được Quốc hội tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cũng trong năm đó, bà bước vào đời ngũ quân đội với quân hàm Chính trị viên phó Thị đội Đồng Hới. Con đường học vấn và sự nghiệp của vị nữ anh hùng tiếp tục rộng mở khi bà được cử đi học tại Trường văn hóa Quân khu, rồi tiếp nối là Học viện Chính trị Quân sự thuộc Bộ Quốc phòng. Đến năm 1978, bà đảm nhiệm cương vị Phó đội trưởng đội công tác thuộc Đoàn 871 của Tổng cục Chính trị. từ năm 1985, bà được điều động về Đà Nẵng, giữ chức vụ Phó Giám đốc rồi Giám đốc, Phó Bí thư chi bộ Khách sạn Bạch Đằng thuộc Quân khu 5. Bên cạnh đó, bà còn là Đại biểu Quốc hội liên tiếp các khóa IV, V, VI, đồng thời là Ủy viên Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Suốt chặng đường cống hiến, bà đã được Nhà nước trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Dù đứng ở đỉnh cao danh vọng, Anh hùng Trần Thị Lý vẫn vẹn nguyên một tấm lòng son sắt, nặng nghĩa tình với mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Những ngày điều hành Khách sạn Bạch Đằng, hễ có con em quê hương Phú Hải vào Đà Nẵng học tập hay công tác gặp cảnh ngặt nghèo, bà đều dang tay nâng đỡ, động viên để các cháu vững lòng tiến bước. Mỗi dịp trở về thăm quê, bà luôn tự tay chuẩn bị những món quà ý nghĩa gửi tặng Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể phường. Bà đã hỗ trợ Hội Người cao tuổi địa phương mua sắm một cỗ xe tang, đóng góp tiền của vào quỹ xây dựng nhà văn hóa, trạm y tế phường, cũng như nâng đỡ nhiều hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, điều thiêng liêng nhất đối với bà là 3 lần được gặp gỡ và nhận được sự chỉ giáo trực tiếp từ Bác Hồ kính yêu. Lần đầu tiên diễn ra sau Đại hội liên hoan chiến sĩ anh hùng thi đua toàn quốc ngày 1 tháng 1 năm 1967, khi đoàn Quảng Bình vinh dự được gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuối buổi gặp, Bác ân cần bảo bà hát bài "Quảng Bình quê ta ơi". Vì quá xúc động và ngượng ngùng nên bà chưa thể cất lời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tinh tế "giải vây" bằng câu nói: "Cháu Lý hãy 'cầm càng' cho tất cả đoàn cùng hát". Thế là, người con gái Nhật Lệ đã đứng dậy bắt nhịp cho toàn đoàn hòa giọng vang ca bài khúc mà Người yêu thích.
Lần thứ hai bà được diện kiến Bác là ngay trước thềm chuyến lên đường sang Cuba tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới. Khi nghe Bác hỏi về công tác chuẩn bị, bà thật thà thưa rằng các chú lãnh đạo đã may cho áo dài và sắm giày cao gót nhưng bản thân đi đứng còn lúng túng lắm. Bác liền ôn tồn bảo: "Cháu sang Cuba lần này để báo cáo thành tích kinh nghiệm chiến đấu của mình và học tập kinh nghiệm của nhiều người khác chứ đâu có phải đi du lịch mà sắm các thứ ấy. Để Bác nói chú Song Hào chuẩn bị bộ đồ bộ bộ và dép cao su cho cháu". Và trang phục giản dị ấy đã theo chân người anh hùng suốt những ngày trên đất nước bạn.
Lần thứ ba, niềm vinh dự nhân lên khi bà được dùng bữa cơm trưa cùng Bác trước ngày lên đường sang Liên Xô dự kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười Nga. Bữa cơm ấm cúng hôm ấy ngoài bà còn có nữ anh hùng Nguyễn Thị Kim Huế và dũng sĩ diệt Mỹ Nguyễn Hồng Sơn. Bác liên tục gắp thịt gà vào bát và giục các cháu ăn nhiều. Lúc xới cơm cho Bác, vì quá bồi hồi, bà Lý vô tình làm rơi vài hạt cơm ra mâm. Bác liền nhặt bỏ vào bát mình rồi ân cần bảo: "Hạt cơm là hạt ngọc của trời, bỏ đi là lãng phí". Bài học giản dị về sự tiết kiệm, trân quý thành quả lao động của người nông dân ấy đã trở thành kim chỉ nam theo bà suốt cuộc đời và vẹn nguyên giá trị thời sự cho đến hôm nay.
Về góc khuất đời tư, bà bén duyên cùng người anh hùng, tướng trận Nguyễn Chơn (sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng). Tình yêu của họ được vun vén nhờ sự mai mối của Tướng Trần Hoài Ân (Cục trưởng Cục Cán bộ) và sự ủng hộ nhiệt thành từ Thủ tướng Phạm Văn Đồng – người cha nuôi tinh thần của bà Lý. Một đám cưới nếp sống mới giản dị đã được tổ chức trang trọng tại hội trường Đoàn 871 vào ngày 31 tháng 7 năm 1977, khi chú rể bước sang tuổi 48 còn cô dâu vừa tròn tuổi 34.
Trận đám cưới lịch sử ấy, đồng chí Võ Chí Công – thủ trưởng cũ của tướng Nguyễn Chơn – đã thân chinh làm chủ hôn. Do bận việc nước không thể đến dự, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi tặng đôi vợ chồng một chai rượu quý để đãi khách và hai cây bút máy. Món quà tinh tế như lời nhắn nhủ thầm kín: Vợ chồng chỉ nên sinh hai con để nuôi dạy cho tốt. Thấu hiểu lời dặn, tổ ấm của hai vị anh hùng Chơn - Lý chỉ đón chào hai cô con gái nhỏ. Giờ đây, các con của ông bà đều đã trưởng thành, có gia đình riêng và cống hiến trong các cơ quan Nhà nước tại Hà Nội và Đà Nẵng.
Những ngày cuối đời của người anh hùng được lưu dấu qua một chi tiết vô cùng xúc động do người em ruột của bà – Thiếu tá Trần Thanh Hương (hiện hưu trí tại phường Đồng Sơn, Đồng Hới) chia sẻ. Căn bệnh đường ruột quái ác đã bám riết lấy bà, dù đã được chạy chữa khắp các bệnh viện trong nước lẫn sang Trung Quốc điều trị nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Khi được đưa về Bệnh viện Quân y 17 thuộc Quân khu 5, biết mình chẳng thể qua khỏi, bà đã xin các bác sĩ được về nhà một đêm duy nhất. Đêm định mệnh ấy, bà dành trọn thời gian để dặn dò chồng con, em cháu những lời tâm huyết cuối cùng rồi thanh thản chìm vào giấc ngủ ngon lành trong chính tổ ấm của mình. Sáng hôm sau, bà trở lại viện và trút hơi thở cuối cùng vào ngày 7 tháng 5 năm 2000.
Anh hùng Trần Thị Lý ra đi, nhưng hình tượng của bà mãi mãi là một trong ba biểu tượng nữ anh hùng bất khuất bên dòng Nhật Lệ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Bà chính là người đã viết nên những trang sử vàng chói lọi, làm rạng danh truyền thống của mảnh đất Đồng Hới anh hùng.



