Trần Thị Lý – Người Con Gái Bất Khuất
Khi nhà thơ Tố Hữu đến thăm Trần Thị Lý, ông đã khóc rất nhiều vì quá xúc động. Tháng 12-1958, bài thơ Người con gái Việt Nam của ông ra đời (sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng), gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế:
“Em là ai, cô gái hay nàng tiên?
Em có tuổi hay không có tuổi,
Mái tóc em đây, là mây hay là suối,
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông,
Thịt da em hay là sắt là đồng ?”
… “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Em đã sống lại rồi em đã sống !
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
Ko giết được em, người con gái anh hùng !”
… “ Từ cõi chết, em trở về, chói lọi
Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi
Em trở về, người con gái quang vinh
Cả nước ôm em, khúc ruột của mình.”
Đó là chị Trần Thị Lý sinh năm 1933 tại Quảng Nam. Chị tham gia Cách mạng từ năm 12 tuổi. Giai đoạn từ 1951 – 1956, chị tham gia đường dây cán bộ nằm vùng và đã từng 2 lần bị bắt nhưng đều được tha vì không đủ chứng cứ. Năm 1956, bị chính quyền Việt Nam cộng hòa bắt lần thứ 3, chị bị tra tấn với những hình thức dã man nhất nhưng người phụ nữ trung kiên ấy vẫn không hé răng dù chỉ một lời.
Cho đến nay, ít ai biết được rằng: làm thế nào“Người con gái Việt Nam” – Nữ anh hùng Trần Thị Lý, bị tra tấn dã man bằng các đòn thù “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung”, lại có thể thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù để ra Bắc tố cáo tội ác dã man của chính quyền Mỹ-Diệm, làm dấy lên làn sóng dư luận phản đối ngụy quyền Sài Gòn chưa từng thấy trong và ngoài nước. Sau đây tôi xin kể lại hành trình tìm lại sự sống một cách kiên cường bất khuất của người con gái anh hùng này.
Vào khoảng 17 giờ ngày 25-10-1958, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội đã phát đi bài về chị Trần Thị Lý làm chấn động dư luận trong và ngoài nước. Đây là sự kiện mở đầu cho cuộc chiến truyền thông chưa từng có giữa hai miền Nam-Bắc, làm ngụy quyền Sài Gòn vô cùng khốn đốn trong việc đối phó với ta và dư luận thế giới. Bản đài nêu rõ: “Chị Lý bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập, “sám hối” với những nhục hình dã man như: lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, dùng điện tra vào đầu vú và bộ phận sinh dục”. Ngay sáng hôm sau, tờ báo Thống Nhất lập tức đăng bài có in hình chị Lý nói về sự việc này, làm dư luận Hà Nội và các tổ chức quốc tế tại đây hết sức bàng hoàng. Tiếp đó, lúc 7 giờ 15 ngày 19-11-1958, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam lại phát đi lời kêu gọi của Trần Thị Lý gửi Ủy ban Quốc tế, chị kể: “Lần thứ 3, tháng 3-1956, chúng bắt tôi về nhà lao Hội An và tra tấn vô cùng dã man, tên Phan Văn Lợi, người do Diệm cử từ Sài Gòn ra, cùng nhiều tên khác trực tiếp tra tấn. Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào họng tôi rồi mang giày đinh thi nhau đạp lên bụng, lên ngực làm nước trào ra miệng và mũi. Chúng lấy móc sắt xuyên bàn chân tôi rồi treo ngược lên xà nhà, dùng điện tra vào cửa mình và vú; lấy dao xẻo từng miếng thịt trên đùi, cánh tay và ngực. Chúng dùng kìm sắt nung đỏ rồi kẹp vào bắp thịt tôi rứt ra từng mảng, dùng thước sắt thọc vào âm đạo... Chúng bắt tôi phải nhận tội “Thân cộng” và “Chống chính phủ quốc gia” của chúng!”.
Bà Trần Thị Vân-chị em chú bác ruột và là người hoạt động cùng chị Lý, hiện sống tại TT Vĩnh Điện (Điện Bàn–Quảng Nam) kể: “Sau 3 lần bắt giam và tra tấn dã man Trần Thị Lý, tháng 12-1957, tưởng Lý đã chết, bọn CA Điện Bàn bèn mang xác nó vứt tại đám mía phía sau nhà lao Vĩnh Điện. Lý được một cơ sở ta phát hiện và cõng về nhà. Để tránh sự truy sát của bọn địch, Lý được ông Phạm Quang-Thường vụ Huyện ủy Điện Bàn cử một y tá tên Lan chăm sóc ở một nơi bí mật. Nhìn thấy tấm thân tàn ma dại của Lý, chúng tôi không ai cầm được nước mắt! Lý về được một hôm, tối hôm sau, 4 thằng mật vụ H. Điện Bàn xô liếp cửa xông vào nhà, thổi tắt phụt chiếc đèn dầu. Biết là bọn chó săn truy tìm, mẹ Lý la lớn: “Bớ làng ăn trộm!”. Một thằng bấm đèn pin lên và nói: “Bọn tau tới coi con Lý có về đây không?”. Chúng kiểm tra không thấy gì nên bỏ đi. Mấy ngày sau đó, bà con cô bác trong họ và các đồng chí chúng tôi kẻ ít, người nhiều góp tiền để chạy chữa cho chị Lý. Chúng tôi nhờ cô Lan và anh Tuấn thay phiên nhau chăm sóc cho chị Lý. Huyện ủy Điện Bàn quyết định bằng mọi giá phải cứu sống chị Lý để đưa ra Bắc cứu chữa và tố cáo tội ác của chính quyền Mỹ-Diệm. Thấy “mất xác” chị Lý, bọn an ninh quân đội và mật vụ Điện Bàn truy nã khắp nơi nhằm thủ tiêu chị. Trước tình thế cam go đó, Huyện ủy Điện Bàn cử một y tá bí mật đưa chị Lý vào Sài Gòn bằng xe đò từng chặng.
Vào Sài Gòn, ban đầu chị Lý trú tại nhà cậu ruột là ông Nguyễn Dinh làm nghề đạp xích lô, sau đó được đưa qua nhà ông Dương Công Trung (Thị Nghè), rồi nhà ông Bảy Quang -Trưởng Ban cán sự Điện Bàn, nuôi giấu và che chở. Một ông bác sĩ già được mời đến để chạy chữa cho Lý, nhìn thấy những vết thương, ông kinh hãi: “Tôi đã hành nghề gần 50 năm song chưa thấy bệnh nhân nào như thế, bà dì ghẻ nào mà ác quá vậy, tôi sẽ làm đơn thưa với tòa giúp chị!”. Bí thế, cơ sở ta phải cho ông biết là do bị địch tra tấn, ông bác sĩ già nghe vậy quỳ xuống lạy như tế sao vì sợ liên lụy. Ông cho chị Lý 2 hộp thuốc kháng sinh và ra về. Đánh hơi thấy chị Lý vẫn còn sống và đã rời khỏi địa phương, bọn an ninh và mật vụ Quảng Nam phối hợp với cảnh sát đô thành Sài Gòn ráo riết truy tìm. Trước tình thế tiến thoái lưỡng nan đó, ông Quang phải đưa chị Lý hết ở nhà này rồi sang nhà khác mà sức khỏe của chị ngày càng thêm suy sụp. Nếu cứ kéo dài tình trạng đó, trước sau gì Lý cũng sẽ bị phát hiện và bắt giữ. Bí thế, ông Quang tìm cách liên lạc với Thành ủy Sài Gòn qua chị Hai Thảo để nhờ giúp đỡ.
Bà Hai Thảo đã móc nối với chị Hai Trợ - một đường dây chuyên đưa cán bộ của ta qua đường Campuchia làm cho Trần Thị Lý một hộ chiếu mang quốc tịch nước này để khi đến nơi, lúc có điều kiện là lên máy bay sang Hà Nội ngay. Bà Hai Trợ nhớ lại dặm dài gian khó này mà kể rằng từ Sài Gòn đi Tân Châu, từ Tân Châu đi Bến Nước rồi từ đó đi bằng xuồng để tới Hưng Lợi. Còn cách một quãng ngắn nữa đến biên giới Campuchia thì tại đây địch bố trí một chốt gác rất gắt, tôi đành nhờ chủ thuyền: “Em tôi bị đau nặng, nếu qua bót gác mấy ổng làm phiền, nhờ chú thương tình cho đi đường vòng để tới Hưng Lợi, tôi sẽ trả tiền thêm!”, người chủ ghe đồng ý. Trên đường đi, chị Lý mấy lần chết đi sống lại. Tại Phnom Penh, sau khi tiếp nhận chị Lý, bà Kim Phụng liền báo cho ông Năm Cường-một đảng viên của ta sống tại Campuchia, đang đóng vai một nhà tư sản lớn, là “Mạnh thường quân” cho những người “tị nạn” Việt Nam, thực chất là cán bộ, cơ sở, du kích... của ta đang bị địch truy bức. Một bác sĩ Campuchia được mời đến chữa cho chị Lý. Rồi chị được đưa đến ở nhờ gia đình một Việt kiều, quê ở Nghệ An. Chính gia đình này đã chăm sóc và sau đó đưa chị lên máy bay về Hà Nội.
Giữa năm 1958, Bệnh viện Việt - Xô tại Hà Nội tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi Trần Thị Nhâm (tức chị Lý), tuổi 25, quê miền Nam, cân nặng: 26kg. Tình trạng bệnh: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu”. Vậy là, hành trình “từ cõi chết em trở về chói lọi” của Trần Thị Lý bắt đầu.
Người con gái bé nhỏ ấy đã minh chứng cho những câu chuyện huyền thoại mà tưởng chừng không thể xảy ra. Nếu chúng ta chưa từng nghe về câu chuyện vượt qua cửa tử của chị Trần Thị Lý, chắc hẳn ta sẽ không thể ngờ rằng sẽ có những đau đớn như vậy xảy ra với một đời người. Nhưng bằng chính lòng yêu nước, sự kiên cường, chị đã chiến thắng tất cả.
Tấm gương nữ anh hùng Trần Thị Lý mang đến cho học sinh hôm nay một bài học sâu sắc về sức mạnh của ý chí, lòng yêu nước và sự kiên định trước mọi thử thách. Ở tuổi mười chín, khi nhiều người còn đang sống những ngày tháng hồn nhiên, chị đã dấn thân vào con đường cách mạng và chấp nhận đối mặt với hiểm nguy. Trong nhà tù đầy đọa, dù bị tra tấn đến tột cùng đau đớn, chị vẫn không khuất phục, không một lời hé mở bí mật, giữ trọn niềm tin vào lý tưởng và đồng đội. Ở chị, chúng ta thấy được rằng nghị lực của con người có thể vượt lên trên mọi giới hạn thể xác khi trái tim mang trong mình một mục tiêu cao cả.
Đối với học sinh - những người đang sống trong hòa bình và có cơ hội học tập, phát triển câu chuyện của Trần Thị Lý nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay không tự nhiên mà có. Đó là kết tinh của biết bao hy sinh. Vì vậy, tấm gương của chị thôi thúc các em phải biết trân trọng từng ngày được đến trường, biết cố gắng vượt qua khó khăn trong học tập, biết nuôi dưỡng ước mơ và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Hơn hết, chị dạy các em rằng sức mạnh vĩ đại không nằm ở những điều to tát, mà bắt đầu từ lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào điều đúng đắn vào những phẩm chất mà mỗi học sinh đều có thể rèn luyện để trở thành phiên bản tốt đẹp hơn của chính mình.



