Bài viết

Trần Thị Lý - Người phụ nữ kiên trung bất khuất

Trần Thị Lý - Người phụ nữ kiên trung bất khuất

Tây Ninh23/04/2026Đoàn Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh (Đoàn Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuộc đời hoạt động cách mạng của chị Trần Thị Lý gắn liền với chặng đường đấu tranh anh dũng chống đế quốc Mỹ của đồng bào miền Nam và của nhân dân cả nước ta. Được rèn luyện, thử thách trong các giai đoạn đấu tranh cách mạng, lúc bí mật, lúc công khai, suốt trong những năm tháng sống trong tù đày, tra tấn, chị luôn nêu cao phẩm chất sáng ngời của một cán bộ cách mạng kiên trung, vững vàng trong mọi tình huống. Chị là một biểu tượng cho tinh hoa của người con gái Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, cho ý chí kiên cường của dân tộc ta “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Anh hùng Trần Thị Lý (tức Trần Thị Nhâm, bí danh Bích Ngọc) sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Gia đình bà có 7 anh chị em thì có tới 5 người là liệt sĩ. Ngay tại nghĩa trang liệt sĩ Quảng Nam, mộ 3 chị em của chị bà cùng đặt ở đây. Khi được tuyên dương Anh hùng, bà nguyên là đảng viên, cán bộ giao liên của tỉnh.

Có lẽ cũng ít người biết được Trần Thị Lý chính là cháu nhà cách mạng Trần Cao Vân, người đã nhiều lần mưu toan chống Pháp và bị đi đày ở Côn Đảo 6 năm. Năm 1916, Trần Cao Vân cùng Thái Phiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Quang Phục hội. Khởi nghĩa thất bại, 2 ông bị bắt và bị chém ở cố đô Huế.

Năm 12 tuổi, Trần Thị Lý tham gia Thiếu nhi cứu quốc của xã. Năm 1946, bà được điều về làm cán bộ văn phòng thanh niên cứu quốc huyện Điện Bàn và là Thường vụ Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc huyện. Năm 1951 - 1952, bà được Đảng giao nhiệm vụ đi xây dựng cơ sở ở xã Điện Hồng, vùng thực dân Pháp tạm chiến.

Những năm tháng trụ bám hoạt động cùng với đồng chí, đồng đội trên quê hương, đầu năm 1952 bà bị thực dân Pháp và tay sai địa phương vây bắt và đưa về giam tại đồn Vân Ly - Gò Nổi.

Tháng 4 năm 1955, Trần Thị Lý phụ trách đường dây liên lạc bí mật của tỉnh tại Đà Nẵng. Thời gian này địch kiểm soát gắt gao, lùng bắt cán bộ ta nằm vùng ở khắp các địa phương, chị đã liên lạc, tập hợp các đồng chí ở các huyện, tìm cách lánh ra Đà Nẵng tránh được sự tổn thất cho cách mạng.

Tháng 6 năm 1955, Trần Thị Lý bị địch bắt lần thứ hai, chúng tra tấn vô cùng dã man, nhưng chị vẫn kiên quyết không khai, bảo vệ bí mật của Đảng và cơ sở cách mạng. Sau 5 tháng giam cầm, tra tấn không khai thác được gì, chúng buộc phải trả tự do cho chị.

Tháng 6 năm 1957, trong lúc đang làm nhiệm vụ, Trần Thị Lý bị địch bắt lần thứ ba. Mặc dù phải chịu mọi cực hình tra tấn cực kỳ dã man của kẻ thù “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung”, nhưng tinh thần chị không hề lay chuyển. Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, địch cho rằng chị không thể sống được nữa nên đem vứt chị ngoài nhà lao. Trần Thị Lý được cơ sở đưa về nhà chăm sóc, sau đó được đưa ra khỏi Gò Nổi và được tổ chức đưa ra miền Bắc chữa trị các vết thương.

17 giờ ngày 25-10-1958, đài phát thanh tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội đã phát đi bài về chị Trần Thị Lý làm chấn động dư luận trong và ngoài nước. Đây là sự kiện mở đầu cho cuộc chiến truyền thông chưa từng có giữa hai miền Nam - Bắc, làm ngụy quyền Sài Gòn vô cùng khốn đốn trong việc đối phó với ta và dư luận thế giới. Bản đài nêu rõ:

“Chị Lý bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập, “sám hối” với những nhục hình dã man như: lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, dùng điện tra vào đầu vú và bộ phận sinh dục!”.

Ngay sáng hôm sau, tờ báo Thống Nhất lập tức đăng bài có in hình chị Lý nói về sự việc này, làm dư luận Hà Nội và các tổ chức quốc tế tại đây hết sức bàng hoàng. Tiếp đó, lúc 7 giờ 15 ngày 19-11-1958, đài phát thanh tiếng nói Việt Nam lại phát đi lời kêu gọi của Trần Thị Lý gửi Ủy ban Quốc tế, chị kể:

“Lần thứ 3, tháng 3-1956, chúng bắt tôi về nhà lao Hội An và tra tấn vô cùng dã man, tên Phan Văn Lợi, người do Diệm cử từ Sài Gòn ra, cùng nhiều tên khác trực tiếp tra tấn. Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào họng tôi rồi mang giày đinh thi nhau đạp lên bụng, lên ngực làm nước trào ra miệng và mũi. Chúng lấy móc sắt xuyên bàn chân tôi rồi treo ngược lên xà nhà, dùng điện tra vào cửa mình và vú; lấy dao xẻo từng miếng thịt trên đùi, cánh tay và ngực. Chúng dùng kìm sắt nung đỏ rồi kẹp vào bắp thịt tôi rứt ra từng mảng, dùng thước sắt thọc vào âm đạo... Chúng bắt tôi phải nhận tội “Thân cộng” và “Chống chính phủ quốc gia” của chúng!”.

Ngày 21-11-1958, 5 bộ đội Liên khu 5 viết kiến nghị và được 2.000 đại biểu ký gửi đến Ủy ban Quốc tế phản đối sự dã man của chính quyền Sài Gòn đối với Trần Thị Lý. Từ ngày 11 đến 21-11-1958, 39 đoàn khách quốc tế đến thăm chị Lý và 62 đoàn tiếp tục đăng ký vào thăm.

Ủy ban Quốc tế tại Sài Gòn cực lực phản ứng, Ngô Đình Diệm một mặt ra lệnh cho bọn tay chân điều tra ai và làm cách nào đã đưa được Trần Thị Lý ra Bắc, mặt khác dùng hệ thống truyền thanh và các báo lá cải thực hiện một chiến dịch tuyên truyền vô cùng rầm rộ... Điều đáng nói là dù đã huy động hết tốc lực để điều tra và ra sức trấn an dư luận song chính quyền Sài Gòn vẫn không biết được làm sao và bằng cách nào Trần Thị Lý ra được miền Bắc.

Bà Trần Thị Vân - chị em chú bác ruột và là người hoạt động cùng chị Lý, hiện sống tại TT Vĩnh Điện (Điện Bàn - Quảng Nam) kể:

“Sau 3 lần bắt giam và tra tấn dã man Trần Thị Lý, tháng 12-1957, tưởng Lý đã chết, bọn CA Điện Bàn bèn mang xác nó vứt tại đám mía phía sau nhà lao Vĩnh Điện. Lý được một cơ sở ta phát hiện và cõng về nhà. Để tránh sự truy sát của bọn địch, Lý được ông Phạm Quang - Thường vụ Huyện ủy Điện Bàn cử một y tá tên Lan chăm sóc ở một nơi bí mật. Nhìn thấy tấm thân tàn ma dại của Lý, chúng tôi không ai cầm được nước mắt! Lý về được một hôm, tối hôm sau, 4 thằng mật vụ H. Điện Bàn xô liếp cửa xông vào nhà, tôi thổi tắt phụt chiếc đèn dầu.

Biết là bọn chó săn truy tìm, mẹ Lý la lớn: “Bớ làng ăn trộm!”. Một thằng bấm đèn pin lên và nói: “Bọn tau tới coi con Lý có về đây không?”. Chúng kiểm tra không thấy gì nên bỏ đi. Mấy ngày sau đó, bà con cô bác trong họ và các đồng chí chúng tôi kẻ ít, người nhiều góp tiền để chạy chữa cho Lý. Chúng tôi nhờ cô Lan và anh Tuấn thay phiên nhau chăm sóc cho Lý. Huyện ủy Điện Bàn quyết định bằng mọi giá phải cứu sống Lý để đưa ra Bắc cứu chữa và tố cáo tội ác của chính quyền Mỹ - Diệm!”. Thấy “mất xác” Lý, bọn an ninh quân đội và mật vụ Điện Bàn truy nã khắp nơi nhằm thủ tiêu chị. Trước tình thế cam go đó, Huyện ủy Điện Bàn cử một y tá bí mật đưa Lý vào Sài Gòn bằng xe đò từng chặng.

Vào Sài Gòn, ban đầu Lý trú tại nhà cậu ruột là ông Nguyễn Dinh làm nghề đạp xích lô, sau đó được đưa qua nhà ông Dương Công Trung (Thị Nghè), rồi nhà ông Bảy Quang - Trưởng Ban cán sự Điện Bàn, nuôi giấu và che chở. Một ông bác sĩ già được mời đến để chạy chữa cho Lý, nhìn thấy những vết thương, ông kinh hãi: “Tôi đã hành nghề gần 50 năm song chưa thấy bệnh nhân nào như thế, bà dì ghẻ nào mà ác quá vậy, tôi sẽ làm đơn thưa với tòa giúp chị!”. Bí thế, cơ sở ta phải cho ông biết là do bị địch tra tấn, ông bác sĩ già nghe vậy quỳ xuống lạy như tế sao vì sợ liên lụy. Ông cho Lý 2 hộp thuốc kháng sinh và ra về. Đánh hơi thấy Lý vẫn còn sống và đã rời khỏi địa phương, bọn an ninh và mật vụ Quảng Nam phối hợp với cảnh sát đô thành Sài Gòn ráo riết truy tìm.

Trước tình thế tiến thoái lưỡng nan đó, ông Quang phải đưa Lý hết ở nhà này rồi sang nhà khác mà sức khỏe của chị ngày càng thêm suy sụp. Nếu cứ kéo dài tình trạng đó, trước sau gì Lý cũng sẽ bị phát hiện và bắt giữ. Bí thế, ông Quang tìm cách liên lạc với Thành ủy Sài Gòn qua chị Hai Thảo để nhờ giúp đỡ. Bà Hai Thảo - sau này là Phó Chủ nhiệm Công ty rau quả TPHCM, hiện đã nghỉ hưu nhớ lại:

“Tôi đã móc nối với chị Hai Trợ - một đường dây chuyên đưa cán bộ của ta qua đường Campuchia để ra Bắc nhưng Lý đang mang trên mình nhiều thương tật, đi đứng rất khó khăn làm sao có thể đi từ Sài Gòn qua đến Phnom Penh. Tuy nhiên, thấy tình cảnh của Lý, chị Hai Trợ đã kiên quyết nói với ông Quang: “Anh yên tâm, bằng mọi cách em sẽ đưa Lý đến Phnom Penh và giao cho chị Kim Phụng trong Hội Việt kiều yêu nước tại đây. Chúng em sẽ đi bằng ô-tô, ghe và tàu để đến đó!”.

Hai Trợ móc nối với cơ sở của ta tại Campuchia làm cho Trần Thị Lý một hộ chiếu mang quốc tịch nước này để khi đến nơi, lúc có điều kiện là lên máy bay sang Hà Nội ngay. Bà Hai Trợ nhớ lại dặm dài gian khó này:

“Từ Sài Gòn đi Tân Châu, từ Tân Châu đi Bến Nước rồi từ đó đi bằng xuồng để tới Hưng Lợi. Còn cách một quãng ngắn nữa đến biên giới Campuchia thì tại đây địch bố trí một chốt gác rất gắt, tôi đành nhờ chủ thuyền: “Em tôi bị đau nặng, nếu qua bót gác mấy ổng làm phiền, nhờ chú thương tình cho đi đường vòng để tới Hưng Lợi, tôi sẽ trả tiền thêm!”, người chủ ghe đồng ý.

Trên đường đi, Lý mấy lần chết đi sống lại. Tại Phnom Penh, sau khi tiếp nhận Lý, bà Kim Phụng liền báo cho ông Năm Cường - một đảng viên của ta sống tại Campuchia, đang đóng vai một nhà tư sản lớn, là “Mạnh thường quân” cho những người “tị nạn” Việt Nam, thực chất là cán bộ, cơ sở, du kích... của ta đang bị địch truy bức. Một bác sĩ Campuchia được mời đến chữa cho Lý. Rồi chị được đưa đến ở nhờ gia đình một Việt kiều, quê ở Nghệ An. Chính gia đình này đã chăm sóc và sau đó đưa chị lên máy bay về Hà Nội.

Giữa năm 1958, Bệnh viện Việt - Xô tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi: "Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục". Vậy là, hành trình “từ cõi chết em trở về chói lọi” của Trần Thị Lý bắt đầu.

Sự kiên trinh bất khuất của người con gái xứ Quảng đã giúp chị trải qua bao tra tấn ở nhà tù Mỹ - Diệm, trở về từ cõi chết. Tại Bệnh viện Việt Xô, năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vào thăm chị và vô cùng xúc động khi thấy chị trong cơn mê sảng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí miền Nam tập kết ra Bắc đều tới thăm chị Lý. Không chỉ vậy, các bạn bè quốc tế Liên Xô, Ba Lan, Mông Cổ, Hunggari, Pháp…và đồng bào ta ở nước ngoài đều khâm phục sự chịu đựng thần kỳ và gửi tấm lòng chia sẻ nỗi đau thương của chị.

Trong những năm tháng chị điều trị tại Bệnh viện Việt Xô, nhà thơ Tố Hữu khi đến thăm chi đã xúc động và viết tặng chị bài thơ “Người con gái Việt Nam” để tôn vinh sự kiên trinh, bất khuất của chị. Bài thơ sau đó đưa vào sách giáo khoa, được dịch ra nhiều thứ tiếng, gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế. Trần Thị Lý chính là bằng chứng sống tố cáo tội ác chiến tranh lúc đó.

Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi

Mái tóc em đây, là mây hay là suối

Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

Thịt da em hay là sắt là đồng ?

...Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi em đã sống !

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng

...Từ cõi chết, em trở về, chói lọi

Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi

Em trở về, người con gái quang vinh

Cả nước ôm em, khúc ruột của mình.

(Trích “Người con gái Việt Nam”).

Tháng 3/1978, được sự yêu thương của anh Nguyễn Viết Tuấn, đám cưới của anh – chị được tổ chức tại quê hương Đại Lộc. Ngôi nhà 63, đường Hải Phòng giữa lòng Đà Nẵng thân thương ghi dấu biết bao nhiêu là ý chí, nghị lực của cả hai để có được hơi ấm thực sự của hạnh phúc gia đình, trong đó, có cả tương lai của đứa con gái tên gọi Thuỳ Linh. Chị mất ngày 20/11/1992.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn