TRẦN THỊ LÝ - NỮ ANH HÙNG BA LẦN BỊ ĐỊCH BẮT, TRA TẤN DÃ MAN

TRẦN THỊ LÝ - NỮ ANH HÙNG BA LẦN BỊ ĐỊCH BẮT, TRA TẤN DÃ MAN
Trần Thị Lý, tên thật là Trần Thị Nhâm, bí danh Bích Ngọc, sinh năm 1933, dân tộc Kinh, quê tại xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Khi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng, Trần Thị Lý là đảng viên, nguyên cán bộ giao liên của tỉnh.
Có rất ít người biết được Trần Thị Lý chính là cháu của nhà cách mạng Trần Cao Vân, người đã nhiều lần mưu toan chống Pháp và bị đi đày ở Côn Đảo 6 năm. Năm 1916, Trần Cao Vân cùng Thái Phiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Quang Phục hội. Khởi nghĩa thất bại, 2 ông bị bắt và bị xử tử ở cố đô Huế.
Năm 12 tuổi, Trần Thị Lý tham gia Đội Thiếu nhi cứu quốc tại địa phương. Đến năm 1946, chị Lý được điều về công tác tại Văn phòng Thanh niên cứu quốc huyện Điện Bàn, đồng thời tham gia Ban Thường vụ Ban Chấp hành Thanh niên cứu quốc huyện.
Trong hai năm 1951-1952, Trần Thị Lý được Đảng giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng tại xã Điện Hồng, vùng do thực dân Pháp tạm chiếm. Đầu năm 1952, trong quá trình bám địa bàn hoạt động cùng đồng chí, đồng đội, chị Lý bị thực dân Pháp và tay sai địa phương vây bắt, đưa về giam giữ tại đồn Vân Ly - Gò Nổi.
Tháng 4/1955, Trần Thị Lý được giao phụ trách đường dây liên lạc bí mật của tỉnh tại Đà Nẵng. Trong bối cảnh địch tăng cường kiểm soát, ráo riết truy lùng cán bộ cách mạng hoạt động bí mật ở các địa phương, chị Lý đã liên lạc, tập hợp cán bộ tại các huyện và tổ chức đưa họ ra Đà Nẵng lánh tránh, góp phần hạn chế tổn thất cho lực lượng cách mạng.
Tháng 6/1955, Trần Thị Lý bị địch bắt lần thứ hai. Mặc dù bị tra tấn hết sức dã man, chị vẫn kiên quyết không khai báo, bảo vệ tuyệt đối bí mật của Đảng và các cơ sở cách mạng. Sau 5 tháng giam cầm, không khai thác được thông tin, địch buộc phải trả tự do cho chị.
Tháng 6/1957, trong khi đang thực hiện nhiệm vụ, Trần Thị Lý tiếp tục bị địch bắt lần thứ ba. Chúng dùng nhiều hình thức tra tấn tàn bạo như điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung, nhưng vẫn không thể khuất phục được ý chí kiên cường của chị.
Đến tháng 10/1958, sau thời gian dài bị tra tấn đến kiệt sức, địch cho rằng Trần Thị Lý không thể sống sót nên đưa ra khỏi nhà lao và vứt bỏ. Nhờ được cơ sở cách mạng phát hiện, đưa về chăm sóc, sau đó tổ chức đưa ra khỏi Gò Nổi và chuyển ra miền Bắc, Trần Thị Lý đã được cứu chữa các vết thương do đòn tra tấn của kẻ thù gây ra.
Trong thời gian điều trị và dưỡng bệnh tại Hà Nội, Trần Thị Lý nảy sinh tình cảm với ông Nguyễn Viết Tuấn, một thương binh đồng hương, làm nghề kỹ sư vô tuyến. Tháng 3/1978, hai người tổ chức một đám cưới giản dị. Do những di chứng nặng nề từ các trận tra tấn trước đây nên bà không thể sinh con, hai vợ chồng đã nhận một bé gái làm con nuôi.
Năm 1979, khi sức khỏe đã phần nào hồi phục, bà rời Hà Nội trở về sinh sống tại Đà Nẵng. Cuộc sống gia đình thời gian này còn nhiều khó khăn, hai vợ chồng phải sống nhiều năm trong một căn nhà cấp 4 đơn sơ.
Ngày 12/2/1992, Trần Thị Lý được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Bà qua đời ngày 20/11/1992 tại Bệnh viện C, Đà Nẵng, hưởng thọ 58 tuổi.
Dù cơ thể bị thương tổn nghiêm trọng do bị tra tấn, chị Trần Thị Lý vẫn sống sót bằng một nghị lực phi thường. Trước tình trạng sức khỏe nguy kịch của chị, tổ chức quyết định đưa chị ra miền Bắc chữa trị theo một hành trình đặc biệt: từ Quảng Nam vào Sài Gòn, tiếp tục sang Phnôm Pênh, Campuchia, rồi đi máy bay ra Hà Nội.
Giữa năm 1958, Phòng số 8, Nhà A1, Bệnh viện Việt - Xô tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi: "Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục".
Nhà thơ Tố Hữu từng đến thăm Trần Thị Lý tại bệnh viện và không kìm được nước mắt trước những đau đớn mà chị phải chịu đựng. Từ cuộc gặp đầy xúc động ấy, tháng 12/1958, ông sáng tác bài thơ “Người con gái Việt Nam”. Tác phẩm sau đó được đưa vào sách giáo khoa, dịch ra nhiều thứ tiếng và gây xúc động mạnh mẽ trong dư luận quốc tế.
Trần Thị Lý đã trở thành biểu tượng về ý chí kiên cường của người phụ nữ Việt Nam, đồng thời là chứng tích sống tố cáo những tội ác chiến tranh và các hình thức tra tấn dã man của kẻ thù.



