Trần Thị Mai — nữ biệt động mang 6 kg TNT vào rạp Đại Nam
Ngày 20-1-1970, Trần Thị Mai cải trang thành người ở quê lên Sài Gòn ăn giỗ, mang hai quả lựu đạn và 6 kg TNT qua cổng kiểm soát rạp Đại Nam; vụ nổ làm 70 sĩ quan, binh lính đối phương thương vong.
Tối 20 tháng 1 năm 1970, tại cổng rạp Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo, lính gác chặn hai phụ nữ mang theo một hộp sữa. Người trẻ hơn bình tĩnh giải thích rằng chị mua sữa cho em, sợ xem phim xong cửa hàng đóng cửa nên phải mua trước. Câu trả lời hợp lý khiến người kiểm soát cho họ đi qua. Trong hộp không có sữa mà là thuốc nổ TNT; tổng số vũ khí Trần Thị Mai đưa từ Tây Ninh vào Sài Gòn hôm ấy gồm hai quả lựu đạn và 6 kilôgam thuốc nổ, được giấu dưới hoa quả và bánh kẹo trong túi xách. Mai chọn chỗ ngồi sát tường, quan sát cho đến khi suất diễn gần kết thúc, đặt khối nổ ở góc kín, bật cơ cấu hẹn giờ rồi cùng cơ sở Hoàng Thị Khanh rời rạp. Xe máy chạy được khoảng 300 mét thì thủng lốp. Hai người phải dắt xe thật nhanh về phía chợ Bến Thành và nghe tiếng nổ lớn phía sau. Báo chí Sài Gòn hôm sau đưa tin 70 sĩ quan, binh lính bị thương vong.
Trần Thị Mai sinh năm 1948 tại Sài Gòn. Cha bà, ông Trần Văn Cắt, hy sinh trong kháng chiến chống Pháp khi con gái vừa lọt lòng. Tháng 5 năm 1964, khi mới 16 tuổi, Mai tình nguyện gia nhập Đội Biệt động Sài Gòn. Công việc đầu tiên là giao liên giữa ngoại thành và nội thành, một nhiệm vụ đòi hỏi trí nhớ, khả năng ứng biến và vẻ ngoài bình thường. Người giao liên phải vượt qua trạm kiểm soát với giấy tờ phù hợp, nhớ nơi giao nhận nhưng không mang theo danh sách và thay đổi lộ trình để tránh bị theo dõi. Những năm đi lại trong thành phố giúp Mai thuộc các đường phố, khu dân cư, giờ đông người và quy luật tuần tra. Sau Tổng tiến công Mậu Thân 1968, mạng lưới biệt động chịu những đợt truy quét gắt gao; nhiều đầu mối bị bắt hoặc phải rút. Trong hoàn cảnh đó, Mai được giao làm Tiểu đội trưởng thuộc B11, Biệt động Sài Gòn, chuyển từ vận chuyển tin tức sang tổ chức đánh các mục tiêu ngay trong trung tâm kiểm soát của đối phương.
Một trận đánh nội đô không bắt đầu khi khối nổ được đặt xuống. Trần Thị Mai phải gây dựng nơi trú, chỗ cất vũ khí và người có thể hỗ trợ mà không làm lộ cả mạng. Bà Hoàng Thị Khanh ở khu ngã ba Bà Quẹo, quận Tân Bình ngày nay, và bà Nguyễn Thị Dung ở đường Phan Văn Trị, khu vực Gò Vấp, trở thành những cơ sở quan trọng. Vũ khí được giấu trong nhà vệ sinh, vị trí ít gây chú ý nhưng vẫn phải bảo đảm khô ráo, an toàn. Mai nhiều lần trinh sát các mục tiêu, ghi nhớ lối vào, vị trí lính gác, thành phần người lui tới và đường rút. Bà chọn rạp Đại Nam vì vào tối cuối tuần, nhiều sĩ quan, binh lính đến xem phim, ca nhạc. Mục tiêu quân sự nằm xen trong sinh hoạt đô thị buộc người tổ chức phải chọn giờ và vị trí hạn chế ảnh hưởng tới dân thường, đồng thời phải có cách mang vật liệu qua cổng mà không sử dụng lực lượng đông.
Sáng 20 tháng 1, từ căn cứ ở Tây Ninh, Mai ngụy trang vũ khí thành quà quê mang lên thành phố ăn giỗ. Hoa quả, bánh kẹo được xếp phía trên, che hai quả lựu đạn cùng sáu kilôgam TNT. Chập tối, bà đến nhà Hoàng Thị Khanh, nhồi thuốc nổ vào hộp sữa bò rồi hai người đi xe máy tới rạp. Sự bình tĩnh ở cổng là kết quả của cả quá trình chuẩn bị: lời giải thích đã được tính để phù hợp với vật mang theo; trang phục, thái độ và mối quan hệ giữa hai người không được tạo cảm giác bất thường. Bên trong rạp đông, Mai không đặt khối nổ ngay mà chờ gần hết suất, vừa tạo thời gian rút vừa nhắm vào nhóm quân nhân còn tập trung. Khi xe thủng lốp, kế hoạch rút nhanh bằng phương tiện bị phá vỡ. Hai người không bỏ xe hoặc chạy tán loạn vì như vậy dễ gây nghi ngờ, mà dắt xe rời khu vực trong khả năng nhanh nhất.
Kết quả trận Đại Nam khiến Trần Thị Mai được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, tổ biệt động nhận Huân chương Chiến công hạng Nhất. Nhưng bà không dừng lại sau một trận nổi tiếng. Chỉ trong hơn hai tháng tiếp theo, Mai ném lựu đạn vào trụ sở lực lượng nhân dân tự vệ trên đường Cô Bắc và tổ chức đánh bom rạp Eden, tiếp tục gây thiệt hại cho lực lượng đối phương. Chuỗi ba mục tiêu cho thấy một nhịp hoạt động rất cao trong điều kiện an ninh Sài Gòn đã siết chặt sau vụ Đại Nam. Sau mỗi lần tiến công, địch có thể rà soát giấy tờ, theo dõi phụ nữ trẻ và kiểm tra vật mang vào nơi công cộng kỹ hơn. Nhóm biệt động phải thay cơ sở, cách ngụy trang và đường tiếp cận. Mai vừa là người trực tiếp hành động vừa phụ trách phối hợp trinh sát, nên mỗi lần xuất hiện ngoài đường đều mang nguy cơ bị nhận diện bởi một người từng nhìn thấy mình ở khu vực trước đó.
Cuối tháng 3 năm 1970, trong lúc trinh sát mục tiêu mới, Trần Thị Mai bị phát hiện sử dụng giấy tờ giả và bị bắt. Đối phương đưa bà về nhà giam Gia Định, trói tay, treo người lên cao để tra hỏi về đơn vị, nơi giấu vũ khí và các gia đình cơ sở. Lúc ấy, những cái tên Hoàng Thị Khanh, Nguyễn Thị Dung cùng toàn bộ tuyến liên lạc có thể bị kéo vào vòng bắt bớ chỉ bởi một lời khai. Mai không cung cấp thông tin. Không khuất phục được bà, nhà chức trách chuyển nữ biệt động qua nhiều nơi giam giữ. Sự thay đổi từ người chủ động trinh sát thành tù nhân bị kiểm soát từng giờ không làm cuộc đấu tranh kết thúc; nó chỉ chuyển mặt trận. Kinh nghiệm tổ chức bí mật được Mai dùng để tìm người tin cậy trong tù, nối các phòng giam và chuẩn bị hành động tập thể thay vì chỉ chịu đựng riêng lẻ.
Cuối năm 1970 tại trại giam Biên Hòa, khi đối phương mở đợt đàn áp những tù nhân không chịu khuất phục, Mai trao đổi với các đảng viên và tham gia thành lập chi bộ trong tù. Cuộc đấu tranh kéo dài 10 ngày với nhiều hình thức: không chào cờ, đòi được học văn hóa, tuyệt thực, không chấp hành các nội quy hà khắc và yêu cầu quyền sinh hoạt. Tù nhân hát các bài ca cách mạng để giữ nhịp phối hợp và động viên người yếu sức. Có lần lính gác ném lựu đạn cay vào khu giam khiến nhiều người ngạt, thương vong; thay vì làm phong trào tan rã, hành động ấy khiến sự phản đối quyết liệt hơn và buộc phía quản lý phải nhượng bộ từng bước. Nếu ở Đại Nam, Mai tính thời gian bằng phút để rời khối nổ, trong nhà tù bà phải giữ kỷ luật suốt nhiều ngày, nơi một người bỏ cuộc có thể làm toàn bộ yêu sách thất bại.
Năm 1972, Trần Thị Mai bị đày ra Côn Đảo. Bà ở đó cho tới khi chiến tranh kết thúc năm 1975, rồi trở về công tác trong lực lượng Công an Thành phố Hồ Chí Minh và nghỉ hưu năm 2002. Quãng đời sau chiến tranh không ồn ào như những tháng đầu năm 1970; người hàng xóm biết bà qua tính vui vẻ, khiêm nhường và cách giúp đỡ mọi người. Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ghi nhận một hành trình gồm cả chiến đấu và lao tù, nhưng những mốc cụ thể làm chân dung rõ hơn: gia nhập biệt động ở tuổi 16, mang 6 kg TNT qua cổng rạp Đại Nam ngày 20-1-1970, thực hiện thêm hai trận trong hơn hai tháng, bị bắt cuối tháng 3 và tổ chức đấu tranh 10 ngày ở Biên Hòa. Trần Thị Mai không phải người chỉ gan dạ trong một khoảnh khắc. Bản lĩnh của bà là khả năng giữ bình tĩnh từ câu trả lời trước lính gác, quyết định giữa đường khi xe thủng lốp đến sự im lặng bảo vệ cơ sở dưới tra tấn và tinh thần tổ chức đồng đội sau song sắt.


