Trần Thị Quang Mẫn
Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Quang Mẫn (Trần Thị Sáu), sinh năm 1928 tại xã Vĩnh Thạnh, huyện Giồng Riềng, tỉnh Hậu Giang, trú tại số 485/3 Tân Kỳ, phường Tân Quý, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, cấp bậc thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam
Sinh ra trong một gia đình đông con, bà là con thứ sáu trong gia đình được coi là khá giả trong vùng. Từ nhỏ, bà được bố mẹ đưa lên tỉnh cho đi học chữ ở một trường tư thục. Mới học hết lớp nhất, bà bỏ học về quê chăn trâu, làm ruộng. Vốn hiếu động, bà theo bọn con trai trong làng đến nhà ông Năm Cọp học võ. Bà nổi tiếng trong đám trẻ với đủ trò nghịch ngợm trong đó có việc chọi trâu.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trần Thị Sáu mong muốn được cầm súng đánh giặc. Sáu rủ em gái Bẩy Trâm trốn nhà đi tập trận cùng với trai làng. Sáu đã bị ông Hai Phước - bố cô đánh cho những trận đòn nhừ tử. Nhưng ý chí được tòng quân luôn nung nấu trong đầu Sáu, cô bàn với em gái “cắt máu ăn thề”, lập kế hoạch trốn nhà đi kháng chiến. Ngón tay áp út bên trái giờ vẫn còn vết sẹo cắt máu ăn thề ngày trước.
Lần thứ nhất, khi bà và em gái lén mang túi xách trốn đến điểm đóng quân gần nhà khoảng một cây số thì bị người cha huy động lực lượng trong gia đình bắt mang về. Hai chị em bị bố nhốt kín trong nhà. Lần thứ hai, sau khi dặn em chạy theo mình, bà vừa phóng ra khỏi nhà mấy chục mét thì cha bà đã cầm con dao chạy theo lôi về. Tiện con dao trong tay, ông chặt cụt món tóc dài óng ả của Sáu. Ông còn dọa sẽ tự sát nếu hai đứa bỏ đi lần nữa.
Càng bị cha ngăn cản, Sáu càng nung nấu khát vọng được cầm súng trực tiếp đánh giặc. Trước quyết tâm của con, không còn cách nào khác, mẹ của Sáu đành nói với chồng: “Trời không chịu đất, đất phải chịu trời”, thôi đành để nó đi theo con đường nó đã chọn.
Được bố mẹ đồng ý, hai chị em gia nhập Vệ quốc đoàn. Bảy Trâm thích làm y tá, Sáu khoái được giáp lá cà, chính tay giết giặc. Nhưng Trường Quân chính quân khu lại chỉ nhận con trai. Sáu đã cải trang bằng cách lấy nút áo đơm kín một miếng vải, quấn chặt ngực, tập dáng đi khệnh khạng như con trai, phơi nắng, dầm mưa cho nước da đen cháy. Nhưng vẫn chưa đủ, Sáu đào một cái lỗ dưới đất, ngày nào cũng úp mặt xuống gào hết cỡ cho bể giọng, nói được tiếng khàn đục như con trai.
Cái tên Trần Quang Mẫn bắt đầu từ đó. Đóng giả trai đâu có dễ, Mẫn phải tập uống rượu, hút thuốc rê phì phèo trước tụi bạn, cũng xốc vác giúp đỡ những cô gái nơi hành quân qua; lợp lá, sửa nhà, … Lúc đi tắm, Mẫn lén đi lúc không có ai, lúc đi ngủ Mẫn không dám đánh trần lăn lóc như đám con trai mà chui vào nóp, quấn chăn ngủ lấy cớ vì… “sợ ruồi”. Mỗi tháng, sắp tới ngày của phụ nữ, Sáu lấy rau dăm giã nát, đổ rượu trắng vào uống nửa chén. Bài thuốc dân gian này được Sáu áp dụng có hiệu quả. Vốn là người thông minh, gan dạ, Sáu được cấp trên cử đi học sĩ quan ở Quân khu 9. Trở về đơn vị, bà chỉ huy đại đội cảnh vệ Trung đoàn.
Năm năm trời trong Đại đội 70 (sau này là Trung đoàn 124 thuộc Quân khu 9), Trần Quang Mẫn đóng giả trai mà không ai phát hiện ra. Anh Trần Quang Mẫn đẹp giai nhiều cô gái đem lòng thầm yêu, trộm nhớ… là nỗi lo ghê gớm nhất của Sáu.
Cái gì đến rồi nó sẽ đến. Quả như vậy. Một lần đơn vị đến đóng quân ở Sóc Nha Xi, của người Khơme. Cô Chăng Cà Mun con gái ông chủ nhà thấy “anh” lính trẻ trong đội quân Vệ quốc đoàn đẹp trai, nhanh nhẹn, nên đã thương thầm. Cô nằng nặc đòi “anh” phải làm hôn phu. Trước sức ép của gia đình và đơn vị, “anh” Mẫn phải đồng ý hứa hôn với Chăng Cà Mun để rồi tìm cách thoái lui viện cớ bận công tác xa nhà.
Chưa xong chuyện đó, bỗng nhiên có một anh bộ đội lạ hoắc tìm đến đơn vị đòi thủ trưởng trả lại người vợ đã hứa hôn từ khi còn trong bụng mẹ. Anh bộ đội đó là Nguyễn Văn Bé, Tiểu đoàn 401, bộ đội địa phương huyện Phú Quốc. Còn người vợ đã hứa hôn kia lại là “anh” Trần Quang Mẫn. Cả Trung đoàn bật ngửa vì trong suốt năm năm trời, không ai phát hiện ra chuyện "động trời" này.
Đơn vị đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người. Đám cưới của hai… “anh” bộ đội khiến bà con đến xem đông như đi… coi hát.
Sống với nhau được bảy ngày thì anh Bé phải về đơn vị. Khi đứa con thành hình được gần hai tháng, họ mới gặp lại nhau một lần nữa. Và đó cũng là lần cuối cùng Mẫn gặp lại người chồng chỉ sống với nhau chưa đầy một tháng. Năm đó anh hi sinh khi mới 25 tuổi. Đó là năm 1952.
Chồng hy sinh, Nguyễn Quốc Hưng đứa con của mối tình bất ngờ là niềm an ủi động viên bà vững lòng. Bà những mong chăm chút cho Hưng khôn lớn, học hành giỏi giang mai này là chỗ dựa cho bà. Hưng giống cha và mẹ ở cái tính lanh lẹ, lém lỉnh và gan dạ. Mới 10 tuổi, cậu bé Nguyễn Quốc Hưng đã lại… trốn mẹ lên Tỉnh đội Rạch Giá, xin làm trinh sát ở Đại đội U Minh 10 của đồng chí Bốn Tâm. Biết con trai giống như mình thủa nào, bà vui vẻ động viên con yên tâm lên đường công tác, chiến đấu mong cho đất nước không còn chiến tranh, Nam Bắc được thống nhất.
Trong một trận đánh năm 1967, bị giặc phục kích, đơn vị của Quốc Hưng hy sinh hết, trong đó có Hưng khi đó mới 15 tuổi. Anh ngã xuống trong tay còn nắm chặt hai khẩu cacbin và AR15. Những kỷ niệm xưa còn lại đối với bà là hai bức hình của người chồng, người con trai yêu quý cùng với những tấm bằng huân chương treo kín trên tường. Tấm to nhất là bằng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng do Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng ngày 17/12/1994, về những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phòng dân tộc.
Gương mặt nhăn nheo nhưng vẫn ẩn chứa những nét thanh mảnh của ngày xưa. Trông bà thật phúc hậu. Bà kể chuyện cho chúng tôi chuyện xưa, chuyện nay. Chuyện bà chẳng giống ai, có chăng giống chuyện “Mạnh Lệ quân” ngày xưa thoát hài…Bà nói: “Tôi không cô đơn lúc tuổi già, Nhà nước, nhân dân và đồng đội, vợ chồng cô con gái nuôi cùng đàn cháu ngoại đã giành cho tôi những tình cảm tốt đẹp nhất. Ngôi nhà của tôi đang sống ở đây chính là ngôi nhà tình nghĩa đồng đội và nhân dân tặng. Con gái tôi hiện đang công tác tại Ngân hàng Công thương thành phố Hồ Chí Minh. Hai cháu ngoại một trai, một gái ngoan ngoãn, học giỏi. Tôi thật sự mãn nguyện. Hỏi chuyện cô con gái nuôi, bà cười:
Năm 1974, khi đó bà giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng. Nơi đóng quân của đơn vị bị địch oanh tạc. Cả tiểu đoàn chui xuống hầm tránh bom. Ngớt tiếng bom, bà chui ra khỏi hầm bỗng phát hiện một phụ nữ mang thai gần đến ngày sinh bị trúng mảnh bom tắt thở. Không chần chừ, bà rút dao găm mang sẵn bên mình, rạch bụng người mẹ cứu được đứa bé. Chuyện đó trở thành giai thoại mà những người lính khi đó truyền nhau mãi. Còn đứa bé bà đặt tên là Ngọc Hân. Bà đã chăm sóc nuôi dưỡng, giờ đây là chỗ dựa cho bà.
https://baotanglichsuquansu.vn/vi-vn/nhan-vat-su-kien/p/me-viet-nam-anh-hung-tran-quang-man-tran-thi-sau-350



