Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRẬN THỌC SÂU “GIÁP LÁ CÀ” Ở PHÍA ĐÔNG SÔNG NẬM RỐM

Đoạn trích là bản anh hùng ca bi tráng về Tiểu đoàn 11 Phủ Thông, từ những mặc cảm sau thương vong tại trận Him Lam đến sự trỗi dậy mãnh liệt trong đợt tiến công thứ hai. Với nhiệm vụ thọc sâu vào khu Đông, đơn vị đã thực hiện một cuộc hành quân táo bạo, vượt qua hàng rào lửa đạn để đánh thẳng vào tung thâm, chiếm trận địa pháo 210 và truy kích địch đến tận bờ sông Nậm Rốm. Đỉnh điểm của sự hy sinh là cuộc quyết chiến không cân sức của Đại đội 243 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Hà Văn Nọa; d

Phú Thọ04/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong trận Him Lam, Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 141 đã anh dũng chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm cứ điểm 1, nhưng cũng để lại trên mình những vết thương rất nặng: hai phần ba lực lượng xung kích bị thương vong, nên trên chưa khen thưởng. Một tâm trạng nặng nề, ân hận với những thiếu sót, tiếc thương đồng chí, đồng đội, băn khoăn về sức chiến đấu của tiểu đoàn ám ảnh toàn đơn vị.

Chính ủy Trần Độ và Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đều cho rằng: “Khi con hổ bị thương nặng, thường nó rất hung nếu bị đạn tiếp. Thời gian còn dài, còn phải liên tiếp chiến đấu đến thắng lợi, Tiểu đoàn 11 hãy sẵn sàng”.

Sau khi tổng kết trận đánh, cán bộ và chiến sĩ trong tiểu đoàn đã nhận thức sâu sắc ý nghĩa thắng lợi, thấy rõ nguyên nhân thương vong nhiều là do chủ quan, ngại gian khổ, thiếu tích cực đào hào chiến đấu, đồng thời cũng nhận rõ nhiệm vụ tiếp theo của đơn vị trong đợt 2 càng quyết liệt nặng nề. Từ đó mọi người vượt qua được mặc cảm, nâng cao tin tưởng và quyết tâm, xác định trách nhiệm sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ trong đợt 2 chiến dịch. Đi đôi với công tác tư tưởng, về tổ chức tiểu đoàn cũng được củng cố, bổ sung thêm và sắp xếp tổ chức lại. Đại đội 241 và 243 sáp nhập làm một do đồng chí Hà Văn Nọa làm Đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Hiệu làm Đại đội phó và đồng chí Bùi Thế Đại làm Chính trị viên... Toàn tiểu đoàn dấy lên một không khí lập công sôi nổi, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Sau chiến thắng Him Lam, Độc Lập, ta đã tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, nhưng ta mới hoàn thành một phần nhiệm vụ đánh chiếm ngoại vi. Trong hệ thống phòng ngự còn lại của địch ở khu trung tâm, các vị trí quan trọng nhất là các điểm cao phía đông.

Vẫn với phương châm “đánh chắc, tiến chắc”, trong đợt 2 chiến dịch, Đại đoàn 312 có nhiệm vụ đánh chiếm đồi E, D1, D2, điểm cao 210 (có trận địa pháo) ở phía đông, không chế sân bay, triệt đường tiếp tế, tiếp viện, thắt chặt và thu hẹp khu vực chiếm đóng và vùng trời của địch.

Để chuẩn bị cho đợt 2, Tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đào hào khép chặt vòng vây. Đây cũng là một cuộc chiến đấu không kém phần quyết liệt. Địch bố trí các hỏa điểm súng máy dọc sân bay, bắn sát mặt đất kết hợp với pháo cối tập trung vào những nơi nghi có ta đột nhập. Với quyết tâm phát huy thành tích và sửa chữa sai lầm (chủ quan ngại đào hào trước đây), toàn đơn vị đều hăng hái, phát huy sáng kiến, đào dũi từ bờ sông Nậm Rốm đến sát sân bay. Sau khi gặp mũi đào của đơn vị bạn, Tiểu đoàn được bàn giao lại, chuyển sang đào chiến hào tiến công đồi E.

Bước vào đợt 2 chiến dịch, Tiểu đoàn 11 được giao nhiệm vụ thọc sâu, làm rối loạn các vị trí bên trong khu Đông, đánh quân địch ra ứng cứu, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn đánh chiếm các cao điểm E, D1, D2 và cao điểm 210.

Để thực hiện nhiệm vụ, Tiểu đoàn tổ chức trinh sát đường vào, phát hiện hệ thống hàng rào, vật cản dài tới 50 mét vắt ngang qua đường giữa đồi E và D1. Lực lượng trực tiếp chiến đấu luồn sâu chỉ có Đại đội 243, tổ chức thành 2 bộ phận. Bộ phận mở cửa được trang bị bộc phá ông, bộ phận thọc sâu được trang bị gọn nhẹ gồm tiểu liên, thủ pháo và 1 trung liên. Đại đội 245 làm lực lượng dự bị.

18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ 2 vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu. Lợi dụng thời cơ các đồi E, D bị tấn công đang còn chìm trong khói lửa, địch lúng túng đối phó, cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn cùng với lực lượng nhỏ bé của mình, vượt khỏi giao thông hào đầy bùn nước, dưới tầm hỏa lực của địch, xốc thẳng vào khu Đông theo đường 41 giữa đồi E và D. Tiểu đoàn phó Lê Đình Huống trực tiếp chỉ huy đội bộc phá tận dụng thời cơ mở hàng rào dày đặc. Ban Chỉ huy tiểu đoàn cùng bộ phận xung kích băng qua cửa mở, xốc thẳng vào trong. Bấy giờ, địch mới phát hiện ra mũi tấn công nguy hiểm này, chúng lập tức tập trung pháo, cối, liên thanh 4 nòng bắn cấp tập vào khu cửa mở. Các chiến sĩ ta lúc đó đang trên mặt đất, thu dọn chướng ngại vật, bị pháo cấp tập bất ngờ nên phần lớn bị thương vong. Đồng chí Tiểu đoàn phó Lê Đình Huống hy sinh.

Lực lượng thọc sâu vào tới bên trong gặp tiểu đoàn dù 5 đang tiến ra, lập tức xông vào đội hình địch, dùng tiểu liên, lựu đạn đánh giáp lá cà. Địch bị bất ngờ, hốt hoảng bỏ chạy.

Mũi phản kích bị bẻ gãy. Thừa thắng, đoàn dũng sĩ của ta chia làm hai mũi. Một mũi do đại đội phó Nguyễn Văn Hiệu và chính trị viên Bùi Thế Đại tiến theo chân đồi D, gặp tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 cơ động đến đó. Không quản ngại địa hình bằng phẳng, các chiến sĩ ta dàn thành thế trận chặn địch, dựa vào vật cản sẵn có, tiếp tục đào thêm công sự, bố trí thành từng tổ chiến đấu. Trong khi đó, ba mũi của đại đội trưởng Nọa, các chiến sĩ vẫn tin ở hành động táo bạo và không kém phần mạo hiểm của mình. Tiểu đội đồng chí Tú liên tục bộc phá mở được một lối vào cứ điểm 210, người này ngã người khác lao lên. Tiểu đội đồng chí Ngọc cũng thừa cơ xốc tới lia tiểu liên vào một toán nấp sau ụ pháo, tạo điều kiện cho Tiểu đội phó Cư vòng lên bắt 8 tên, diệt 5 tên. Cùng lúc, trung đội 5 nhào lên đánh thẳng vào đại đội 2 của địch. Cả toán này tháo chạy, 7 tên nữa bị bắt. Nhiều tên mất cả phương hướng chạy quàng cả vào hàng ngũ của ta. Sau nhiều giờ chiến đấu, trận địa pháo địch ở căn cứ 210 bị ta chiếm đoạt, những ổ đề kháng cài lại, chặn bước tiến của ta cũng bị tiêu diệt hoàn toàn. Lúc này, mưa như trút nước, pháo sáng nhập nhòe, không đủ nhận rõ ta hay địch. Đại đội trưởng Nọa quyết định lấy tiếng súng bắn trả của địch làm mục tiêu tiếp tục công kích. Các chiến sĩ đồng loạt dùng lựu đạn, thủ pháo xông vào chiếm trận địa của tiểu đoàn dù Âu thứ nhất. Nhiều chiến sĩ ta da thịt bị cào rách, cứ thế giật ra mà tiến lên. Trên quãng đường dài hàng trăm mét, mặc dầu địch đông, hỏa lực nhiều nhưng chúng cũng không tiến ra được và chiếm được trận địa của 2 mũi của Đại đội 243 khi đó đã nhập làm một để sát cánh chiến đấu. Do một số bị thương đã thoát ra ngoài trong đêm, lực lượng còn lại quá mỏng. Chính trị viên Đại và Đại đội phó Hiệu hy sinh. Trong khi tiến đánh các lực lượng địch ngăn chặn trên đường, vừa truy đuổi toán quân dù ngụy số 6 rút chạy, đến khi thấy ánh nước bạc trước mặt mới hay đã tới bờ sông Nậm Rốm, vượt quá nhiệm vụ được trao cho đơn vị. Lập tức anh em rút ra, lúc đó đã gần sáng.

Mờ sáng, địch dùng bộ binh có xe tăng yểm hộ ra phản kích. Mũi thọc sâu bây giờ trở thành lực lượng và bàn đạp trực tiếp uy hiếp vào trung tâm, khi đồi E và D của địch đã tan hoang. Chúng rất biết lực lượng thọc sâu của ta đã bị tiêu hao đáng kể. Có nhổ được cái gai trước mắt mới có thể nghĩ tới chuyện tiếp theo, giành lại các cao điểm đã mất.

Đại đội 243 lúc này còn gần 20 đồng chí, trong đó có một số thương binh chưa được đưa ra, vũ khí hỏng hóc, đạn dược gần hết, trung liên còn khoảng 10 băng, súng trường trung bình mỗi khẩu 20 viên, thủ pháo hết, lựu đạn còn mỗi người một quả... Toàn đại đội dựa vào chân đồi, vào công sự, tận dụng các vật cản sẵn có, chia thành từng tổ chiến đấu, lập thành một trận địa phòng ngự chặn địch. Các cuộc liên lạc với trên bằng chạy bộ và điện đàm cầm tay đều không thực hiện được. Lui quân vào thời điểm này rất không thuận. Lần nữa, một cuộc hội ý chớp nhoáng giữa 4 đảng viên còn lại lúc này hạ quyết tâm: chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Từng người buộc lại vết thương của mình thật chặt. Tổ trưởng Tú bị mất một cánh tay, được một chiến sĩ khác nhường cho một lưỡi lê. Liên lạc Dân không còn dùng máy vô tuyến điện được nữa đã dùng đôi bàn tay moi từng nắm đất gan gà pha cát sỏi để giúp đồng đội làm công sự. Chiến sĩ Hoàng lần đầu xuất trận, qua thử thách, giờ chững chạc và gan lì lên rất nhiều. Dưới làn mưa đạn trọng liên 4 nòng quét sát mặt đất, lại có sự yểm trợ của đại bác và máy bay oanh tạc xuất hiện khi bầu trời đã tan mây, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, các tổ 3 người xoay lưng vào nhau, phối hợp chặt chẽ, yểm hộ nhau, hết đạn thì dùng lưỡi lê đánh giáp lá cà, quyết chiến ngay trong vòng vây khép kín của những toán địch ào ào xông tới. Đại đội trưởng Nọa bị một thằng Tây đen dí xuống bùn, tuy chỉ có một cánh tay không trồi lên được, nhưng anh vít đầu nó xuống, dùng miệng cắn vào yết hầu, máu nó phun đầy ra miệng anh. Anh chồm dậy lao vào vật nhau với tên khác. Báng súng của tân binh Hoàng liên tục bổ xuống hết đống thịt này đến đống thịt khác. Bỗng lưỡi lê của một tên giặc cao gấp đôi Hoàng đâm xuyên từ lưng sang ngực anh, Hoàng nảy người lên, vừa lúc nó rút lưỡi lê ra, anh vung báng súng lên quật ngay tên địch, rồi ngã xuống.

Địch bị thất bại nặng nề. Nhưng chúng cậy thế đông người tổ chức xung phong liền 3, 4 đợt. Mỗi đợt cách nhau chừng 30 phút, có đợt lính Âu và ngụy lẫn lộn, nhưng đều không hiệu quả. Trước các tổ 3 người xoay lưng vào nhau, lưỡi lê trên đầu súng chìa ra trước mặt, sẵn sàng dồn vào cùng một hướng khi địch xông tới, dùng sức 3 chọi 1 rất có hiệu quả.

Sự chờ mong sẽ có lực lượng tiếp viện hoặc có sự hoạt động nào đó của đơn vị bạn “đỡ đòn” cho bộ phận thọc sâu lúc này đã trở nên không tưởng. Tình hình thực tế ra sao, cấp chỉ huy từ tiểu đoàn trở lên vẫn không nắm được. Mãi sau này mới biết, trong đêm, Bộ chỉ huy Đại đoàn có trao nhiệm vụ cho 2 tiểu đoàn 115 và 54 nhanh chóng luồn qua khe hở tiến vào bên trong khu Đông. Nhưng hai tiểu đoàn trên gặp khó khăn, không mở được cửa qua các bãi rào dây thép gai dày đặc. Vì vậy không thực hiện được kế hoạch phối hợp với cánh quân Tiểu đoàn 11 Phủ Thông.

Dùng hỏa lực kết hợp xung lực không xong, địch chuyển sang dùng xe tăng để tiến công, từ xa bắn vào trận địa, rồi tiến lên dùng xích sắt xông vào đè bẹp các công sự với các chiến sĩ dũng cảm của chúng ta. Lúc này không còn gì để đánh lại xe tăng địch.

Ròng rã suốt một đêm và gần trọn nửa ngày sau, luôn luôn tái diễn một tấn bi kịch chỉ có 2 vai đóng: “Người và Thần chết”. Lời hứa với tiểu đoàn khi còn liên lạc được với nhau của đại đội trưởng Nọa: “Xin được ở lại chiến đấu”, nay chỉ còn lưu trong chốn hư không với một ấn tượng rất sâu sắc về một con người cương trực, dũng cảm ngay từ khi phát hiện ra những sai sót trong quá trình trinh sát, giúp trên kịp điều chỉnh lại, tránh được tổn thất và giành thắng lợi trong trận Him Lam mở màn chiến dịch.

Giây phút cuối cùng của trận đánh không sao ngờ được một “cụm cứ điểm” nhỏ hình thành ngay ven đường 41, với những trận giáp lá cà hết sức quyết liệt làm cho quân địch không tạo nổi thế bủa vây. Chúng phải dùng hình thức đê hèn nhất là cho xe tăng nghiền nát thương binh của ta.

Trận quyết chiến và huyết chiến chấm dứt. Lực lượng còn lại của đơn vị thọc sâu đã chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng.

Đại đội 245 dự bị của Tiểu đoàn được tăng cường tới thì trận đánh đã kết thúc. Xe tăng địch dàn ra đường 41 đề phòng ta tấn công vào. Tiểu đoàn và Đại đội 245 dựa vào chân đồi D, chuẩn bị sẵn sàng quyết chiến với quân địch nhưng chúng không dám tiến ra.

Tiểu đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Đơn vị thọc sâu của Tiểu đoàn đã nêu tấm gương vô cùng dũng cảm, kiên cường, đánh với trên 2 tiểu đoàn địch, truy kích địch sâu vào tung thâm, chiến đấu giáp lá cà và chống chọi với xe tăng địch đến người cuối cùng, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn tiêu diệt địch ở đồi E và D1, D2.

Với chiến công oanh liệt trong trận thọc sâu, cùng chiến công đánh cứ điểm 1 cụm cứ điểm Him Lam, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tặng thưởng cho Tiểu đoàn 11 Phủ Thông Huân chương Quân công hạng Nhì.

Anh dũng kiên cường thay, vinh quang thay những đồng chí, đồng đội đã ngã xuống để làm nên chiến thắng này, tô đậm thêm truyền thống Tiểu đoàn Phủ Thông anh hùng!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
TRẬN THỌC SÂU “GIÁP LÁ CÀ” Ở PHÍA ĐÔNG SÔNG NẬM RỐM | Câu chuyện thời hoa lửa