TRẦN TIẾN LỰC – NGƯỜI CHÍNH TRỊ VIÊN HY SINH SAU TRẬN ĐỘNG TOÀN
Anh hùng LLVTND Trần Tiến Lực (tức Trần Bá Quát, 1930–1968), quê xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông hoạt động lâu năm tại chiến trường Trị – Thiên, góp công xây dựng lực lượng đặc công từ một trung đội phát triển thành tiểu đoàn. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, ông cùng đơn vị tham gia chiến đấu tại nội thành Huế, khu vực Đại Nội, Mang Cá và sân bay Tây Lộc. Ngày 20/5/1968, với cương vị Chính trị viên Tiểu đoàn đặc công, Trung đoàn 6, ông tham gia chỉ huy trận đánh tại Động Toàn, sau đó hy sinh khi đang kiểm tra trận địa và tổ chức đưa thương binh, tử sĩ về phía sau. Ngày 20/12/1969, ông được truy tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Trận đánh đã kết thúc.
Nhiệm vụ chiến đấu cơ bản đã hoàn thành.
Nhưng Trần Tiến Lực chưa rời trận địa.
Ông đi kiểm tra lại khu vực chiến đấu, đồng thời tổ chức đưa những người bị thương và những đồng đội đã hy sinh về phía sau.
Và chính trong lúc thực hiện công việc cuối cùng ấy, ngày 20 tháng 5 năm 1968, người chính trị viên tiểu đoàn đặc công đã hy sinh.
Ông ra đi khi mới 38 tuổi.
Đó là điểm kết thúc của một hành trình chiến đấu kéo dài qua hai cuộc kháng chiến và đặc biệt gắn bó với chiến trường Trị – Thiên.
Từ người du kích xã đến cán bộ đặc công
Trần Tiến Lực, còn có tên Trần Bá Quát, sinh năm 1930, quê xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia du kích tại địa phương và chiến đấu nhiều trận.
Tháng 3/1954, ông nhập ngũ.
Từ tháng 6/1960, Trần Tiến Lực trở lại hoạt động trên chiến trường Trị – Thiên.
Đây cũng là nơi ông gắn bó gần như trọn vẹn quãng đời chiến đấu còn lại.
Trong khoảng tám năm, từ 1960 đến tháng 5/1968, ông cùng đồng đội xây dựng lực lượng từ một trung đội phát triển thành một tiểu đoàn.
Không chỉ xây dựng đơn vị, lực lượng còn phối hợp với địa phương gây dựng cơ sở cách mạng và phát triển phong trào du kích.
Trần Tiến Lực dần trưởng thành thành một cán bộ chỉ huy.
Đặc điểm nổi bật của ông là khi chiến đấu thường đi sát mũi tiến công chủ yếu.
Nơi khó khăn nhất.
Nơi trận đánh quyết liệt nhất.
Ông thường có mặt ở đó.
Trận Từ Hạ năm 1967
Ngày 6/4/1967, Trần Tiến Lực chỉ huy đơn vị phối hợp với lực lượng bạn tiến công căn cứ Từ Hạ, Thừa Thiên.
Theo tài liệu tuyên dương, trận đánh đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 800 đối phương, gồm 5 đại đội và 6 trung đội, đồng thời phá hủy gần 100 xe quân sự.
Chiến thắng Từ Hạ cho thấy khả năng tổ chức và hiệp đồng chiến đấu của lực lượng mà Trần Tiến Lực tham gia xây dựng.
Nhưng chưa đầy một năm sau, ông cùng đơn vị bước vào một chiến dịch có quy mô lớn hơn rất nhiều.
Xuân 1968 – tiến vào nội thành Huế
Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, đơn vị của Trần Tiến Lực được giao nhiệm vụ tham gia chiến đấu tại Huế.
Trước giờ nổ súng, ông cùng tập thể chỉ huy tập trung xây dựng quyết tâm và chuẩn bị cho đơn vị.
Khi chiến đấu bắt đầu, lực lượng của ông hiệp đồng với các đơn vị bạn tiến vào nội thành Huế.
Các trận đánh diễn ra tại nhiều khu vực quan trọng.
Đại Nội.
Mang Cá.
Sân bay Tây Lộc.
Theo hồ sơ thành tích, trong toàn đợt hoạt động, đơn vị của Trần Tiến Lực diệt một đại đội đối phương tại khu vực Đại Nội, chiến đấu tại Mang Cá và phá hủy hơn 60 máy bay tại sân bay Tây Lộc.
Sau những trận đánh ở Huế, Trần Tiến Lực tiếp tục ở lại chiến trường.
Ba tháng sau, ông bước vào trận đánh cuối cùng của cuộc đời.
Ngày 20/5/1968 – trận Động Toàn
Mục tiêu lần này là lực lượng thiết giáp Mỹ tại Động Toàn, Thừa Thiên.
Trần Tiến Lực trực tiếp phụ trách bộ phận nghiên cứu trận địa.
Muốn đánh được một lực lượng có xe tăng, xe bọc thép và hỏa lực mạnh, trước hết phải hiểu thật rõ mục tiêu.
Ông cùng đồng đội trực tiếp khảo sát thực địa.
Nắm tình hình đối phương.
Nghiên cứu địa hình.
Xác định phương án tiếp cận và tiến công.
Sau khi trở về, Trần Tiến Lực cùng ban chỉ huy tổ chức phương án chiến đấu và xây dựng quyết tâm cho đơn vị.
Khi trận đánh bắt đầu, ông không ở phía sau.
Theo phân công, người chính trị viên trực tiếp đi cùng mũi tiến công chủ yếu.
Đi cùng mũi chủ yếu
Các mũi tiến công phải hiệp đồng chặt chẽ để nhanh chóng phá vỡ đội hình đối phương.
Trần Tiến Lực trực tiếp bám mũi chủ yếu và tham gia chỉ huy.
Theo tài liệu tuyên dương, đơn vị đã đột phá nhanh và giành thắng lợi lớn tại Động Toàn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 đối phương, phá hủy gần 100 xe quân sự, trong đó có khoảng 50 xe tăng và xe bọc thép.
Trận đánh kết thúc.
Nhưng với Trần Tiến Lực, nhiệm vụ vẫn chưa kết thúc.
“Chưa hết thương binh, tử sĩ…”
Sau chiến đấu, trên trận địa vẫn còn những người bị thương và những chiến sĩ đã hy sinh cần được đưa về phía sau.
Trần Tiến Lực trực tiếp đi kiểm tra trận địa.
Ông tổ chức lực lượng đưa thương binh và tử sĩ ra ngoài.
Chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ ấy, Trần Tiến Lực hy sinh.
Ngày hôm đó là 20 tháng 5 năm 1968.
Ông để lại phía sau gần tám năm liên tục chiến đấu trên chiến trường Trị – Thiên và một đơn vị mà ông đã góp phần xây dựng từ quy mô trung đội thành tiểu đoàn.
Một người cán bộ gần chiến sĩ
Trong hồ sơ tuyên dương, Trần Tiến Lực không chỉ được nhắc đến bởi khả năng chiến đấu và chỉ huy.
Ông còn được ghi nhận là người có tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm chỉnh chấp hành chính sách và kỷ luật chiến trường.
Trong sinh hoạt, ông giản dị.
Trong công tác, gần gũi cấp dưới.
Trong chiến đấu, thường xuyên bám sát những hướng khó khăn.
Cùng tập thể ban chỉ huy, ông chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh về nhiều mặt.
Và đến trận đánh cuối cùng, phẩm chất ấy vẫn được thể hiện:
trận đánh đã thắng nhưng người chỉ huy chưa rời đi khi thương binh, tử sĩ vẫn còn trên trận địa.
Sự ghi nhận sau ngày hy sinh
Hơn một năm sau ngày Trần Tiến Lực hy sinh, những đóng góp của ông được Nhà nước cách mạng ghi nhận.
Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng Trần Tiến Lực Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu:
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG.
Khi hy sinh, ông là Chính trị viên Tiểu đoàn đặc công, Trung đoàn 6, Mặt trận Trị – Thiên.
Cuộc đời Trần Tiến Lực có thể được ghi nhớ qua nhiều trận đánh: Từ Hạ, nội thành Huế, Đại Nội, Tây Lộc, Động Toàn...
Nhưng có lẽ hình ảnh cô đọng nhất về người cán bộ ấy nằm ở những phút cuối cùng:
Sau trận đánh thắng lợi, ông vẫn ở lại trận địa.
Kiểm tra từng vị trí.
Tổ chức đưa đồng đội bị thương và hy sinh về phía sau.
Và ông đã không trở về.



