Trần Trọng Khiêm (1821-1866)
Ông Trần Trọng Khiêm người làng Xuân Lũng, huyện Sơn Vĩ, tỉnh Phú Thọ. Lúc nhỏ nổi tiếng thông minh hay chữ nhưng ông không chọn con đường khoa cử vì anh ruột ông cũng vì đỗ đạt mà rơi vào cảnh tù đày. Năm hai mươi tuổi, ông lấy vợ và theo nghề buôn gỗ, có điều kiện giao dịch với thương nhân Hoa kiểu ở Bạch Hạc (Việt Trì), Phổ Hiền (Hưng Yên). Năm 1843, vợ ông bị tên cai tổng thủ tiêu vì y không lây được bà. Ông giết tên cai tổng để trả thù cho vợ rồi trồn xuống Hưng Yên làm ăn.
Tại đây, ông làm thuỷ thủ cho một tàu buôn nước ngoài nên có dịp đi Hương Cảng, Hà Lan, Anh quốc. Cuối cùng, khoảng năm 1850, ông đền Hoa Kỳ. Ông bỏ nghề thuỷ thủ, gia nhập vào đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây Hoa Kỳ. Chân ngân cuộc sống hỗn độn, truy lạc, cướp bóc của những người tìm vàng, ông trở về California làm nhân viên cho tòa soạn báo Daily Evening. Năm 1854, lại chân cảnh vô
chính phủ của thế giới vàng ở California, nhân có chuyến tàu, ông quay về Hương Cảng nhập tịch Trung Quốc.
Năm sau, ông về nước và cư trú ở miền Nam. Vào thuở ấy, miền Nam nhất là đồng bằng sông Cửu Long, dù đã được khai phá nhưng nhiều nơi vẫn còn hoang vu, ông cùng vài người bạn đứng ra khai hoang, góp phần lập nên làng Hòa An thuộc tổng An Tịnh, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang, giáp ranh với làng Mỹ Trà (thuộc huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường).
Năm 1862, trước áp lực quân sự của thực dân Pháp, triều đình Tự Đức nhường ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định và Định Tường cho Pháp. Năm 1863, ông cùng Thiên hộ Võ Duy Dương xây dựng cân cử ở Gò Tháp nằm trong Đồng Tháp Mười. Ông là người về kiểu các công sự chiến đấu mô phòng theo kiểu của các đồn canh của một đại uý (sau được chính phủ Hoa Kỳ phong
đại tướng) tên Sutter, xây dựng ở California gọi là đón Sutter. Ông được Thiên hộ Dương giao chỉ huy một đội nghĩa quân, đánh thắng Pháp nhiều trận ở Mỹ Trà, Cao Lãnh, Cai Lậy... Tháng 4 năm 1866, Pháp mang đại quân tần công đại đồn Tháp Mười, ông chiền đầu quyết liệt và từ trận lúc 45 tuổi. Trước khi nhắm mắt, ông khuyên nghĩa quân hãy chiến đấu đền cùng
và dặn vợ nuôi con, đừng hợp tác với giặc. Thi hài ông được nghĩa quân chôn cất tại Gò Tháp và có câu truy niệm:
"Hỡi ơi! Lòng trời không tựa, tấm gương tiết liệt vì nước quyên sinh, Chính khí nêu cao, tinh thần Nùng Nhị còn lưu truyền hậu thế"



