Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TRẬN TUYẾN TIẾP VIỆN LÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đoạn trích tái hiện cuộc đấu trí và đấu lực cam go trên mặt trận hậu cần – nơi được coi là "điểm yếu chí tử" quyết định thắng bại của cả hai bên tại lòng chảo Điện Biên Phủ. Trong khi thực dân Pháp chủ quan cậy nhờ sức mạnh hàng không, quân và dân ta đã tạo nên một kỳ tích vô tiền khoáng hậu bằng cách huy động sức mạnh của toàn dân tộc. Từ những quyết sách khoa học của Bộ Chính trị đến sự hy sinh "vét tận đáy bồ" của nhân dân các dân tộc Tây Bắc và hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh, hơn 26 vạn dân

Phú Thọ04/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Theo kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, ngày 10 tháng 12 năm 1953 ta tấn công Lai Châu, chỉ sau 10 ngày chiến đấu, quân ta đã giải phóng toàn bộ khu vực địch còn chiếm đóng ở Lai Châu. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, địch phải gấp rút nhảy dù tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến nơi đây thành nơi tập trung binh lực lớn “tiếp nhận chiến đấu với chủ lực ta tại Điện Biên Phủ”. Tình huống đúng như dự đoán, thời cơ tiêu diệt sinh lực địch đã đến, quân ta gấp rút tiến hành bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Những ngày cuối tháng 12 năm 1954 các đại đoàn chủ lực thiện chiến được gấp rút điều động về đây, đưa quân số trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu lên hàng chục vạn người. Mặc dầu đã có sự chuẩn bị trước cho chiến dịch Lai Châu nhưng diễn biến chiến trường quá nhanh nên công tác tiếp vận bảo đảm hậu cần cho bộ đội trên một chiến trường xa hậu phương, trong một thời gian ngắn, quả là một vấn đề nóng bỏng. Thật vậy, đây là một vấn đề nhạy cảm, một cuộc chiến đấu giằng co, quyết liệt giữa đôi bên đối địch kéo dài suốt cả thời gian từ khi bao vây Điện Biên Phủ cho đến khi kết thúc chiến dịch, ở hậu phương mỗi bên và cả trên các ngả đường vận tải về Điện Biên Phủ. Nó quyết liệt ở chỗ cả hai bên đều biết khá rõ điểm yếu chí mạng của nhau và phải tiếp vận một khối lượng vật chất khá lớn đến một chiến trường xa hậu phương, mà đường tiếp vận thì độc đạo. Ta chỉ có một trục đường bộ chủ yếu từ Sơn La vào Điện Biên, còn Pháp cũng chỉ có một phương thức tiếp vận duy nhất là hàng không thả dù và hạ cánh, nên cả hai bên đã tập trung sức mạnh có thể, ngày đêm rình rập, đánh vào các điểm yếu của nhau những đòn mãnh liệt nhất.

Trong cuộc đấu trí và đấu lực gay go trên tuyến tiếp vận của cả hai bên, nổi bật lên vai trò của hậu phương quốc gia, ai xây dựng được hậu phương thường xuyên vững chắc có khả năng huy động cao nhất, bền bỉ nhất cho tiền tuyến, thì người đó nắm chắc phần thắng lợi.

Ngày 12 tháng 1 năm 1954 sau khi vượt qua đèo Pha Đin, trên đường vào chỉ huy sở, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gặp thân mật các đồng chí chỉ huy các tuyến hậu cần, vận tải quân đội, những người đã lặn lội cùng với anh đi phục vụ qua nhiều chiến dịch. Trong buổi gặp, Đại tướng đã căn dặn, tâm tình nhiều hơn là chỉ thị: “Mình đi chiếc xe Zeep cọc cạch trên những con đường mới mở, từ Lũng Lô cho đến đèo Pha Đin, càng đi xa càng thấy đường sá hiểm trở. Ngã ba Cò Nòi là đầu mối giữa hai con đường, thế nào địch cũng biến nơi này này thành một túi bom. Nghĩ tới việc tiếp tế cho mặt trận, đường sá dài, người ở tiền tuyến cần gạo mà người vận chuyển cũng cần gạo; việc tiếp vận sẽ trở nên gay gắt, nhất là chiến dịch kéo dài, các cậu phải cố gắng lắm đấy”. Tầm nhìn của vị Tổng Tư lệnh kính yêu đã nhắc nhở cho các cán bộ hậu cần và vận tải thấy rõ vị trí trọng yếu và tình hình sẽ cực kỳ khó khăn của công tác tiếp vận trong chiến dịch này. Thời gian sau đó, khi công tác tiếp vận gặp trở ngại, lại chính vị Tổng chỉ huy của chúng ta đã bỏ hẳn một số ngày không theo dõi chỉ huy tác chiến mà chuyên tâm ân cần cùng với các cán bộ hậu cần, vận tải bàn các giải pháp để đẩy nhanh gạo lên tiền tuyến.

Trong khi đó, ở trận tuyến đối phương, tại sở chỉ huy của Đờcátxtơri trong đêm giáng sinh vui vẻ (24.12.1953) bên ánh lửa trại bập bùng ven sông Nậm Rốm, viên Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp Na-va huênh hoang tuyên bố với ba quân: “Việt Minh đưa quân lên đây, nhưng họ phải lo việc cung cấp quá lớn, trên một chặng đường khá dài, qua những vùng hiểm trở, nghèo xác xơ và đường giao thông hầu như không có. Vận tải của Việt Minh chỉ toàn bằng “cu ly” gánh bộ, nếu có bằng đường ô tô chăng nữa thì phải đi trên những chặng đường rất xấu, luôn luôn bị không quân Pháp cắt đứt”. Các sĩ quan Pháp dự đêm vui, đều hể hả với nhận định “cầm chắc phần thắng” của cấp trên, duy chỉ có một nỗi lo canh cánh bên lòng mà Đờcátxtơri đã thay mặt họ phát biểu: “Chúng tôi chỉ còn sợ Việt Minh thấy miếng mồi Điện Biên Phủ quá to, nếu vì họ quá sợ mà không dám tấn công nữa, thì thật là tai họa đối với tinh thần binh sĩ!”.

Phải chăng, sự đánh giá ban đầu chủ quan, mù quáng này của những người cầm đầu quân đội Pháp ở Đông Dương tại Điện Biên Phủ, sẽ là điểm khởi đầu cho những thất bại của họ sau này?

Thực hiện kế hoạch “băm nát mạch máu” của ta, trên đường từ hậu phương ra mặt trận, địch đã tập trung đánh phá từng đoạn ở những nơi hiểm trở; có nơi còn kết hợp cả máy bay rải bom với đại bác bắn cầm canh từ những đồn địch gần đường vận chuyển, vào những giờ chúng biết có nhiều xe đi qua, như đồn Mỏ Thổ (Bắc Giang), đã bắn vào khu vực đèo Cả, Bến Sỏi liên tục 1 tháng 10 ngày, nhằm chốt chặn xe ta trên đường số 1 từ Lạng Sơn về, nhưng ta đã mở đường vòng tránh, bảo đảm vận chuyển thông suốt. Nhiều nơi, chúng vừa phá đường vừa cho máy bay săn đuổi xe ta, đánh thẳng vào sinh lực của vận tải.

Tại ngã ba Cò Nòi, mỗi ngày máy bay địch trút xuống trên 60 tấn bom mìn các loại: nổ ngay, nổ chậm vùi lẫn với bom bươm bướm, mìn đè nổ, mìn phá xe, chông ba cạnh. Mỗi khi máy bay đi bắn phá ở đâu về qua, chúng cũng “tọa độ” xuống ngay ngã ba này một “bãi”, làm cho địa hình vùng này biến dạng hàng ngày, đến nỗi tổ quan sát công binh ở đây, chỉ trong vòng hai tháng 1 và 2 năm 1954 đã phải vẽ lại sơ đồ qua vùng này tới 19 lần. Anh em công binh và thanh niên xung phong gọi Cò Nòi là “ngã ba sống chết” vì đi qua đây, cái sống liền kề ngay cái chết, do bom mìn địch giương bẫy thường trực ngày đêm.

Để xiết chặt cái thòng lọng khổng lồ quanh cái lòng chảo rộng lớn này, ta phải bố trí một lực lượng đủ mạnh, lúc cao điểm lên tới 86.800 người, gồm 53.800 quân và 33.000 dân công thanh niên xung phong; yêu cầu lương thực bình quân 90 tấn/ngày, tính từ Sơn La trở vào. Ngay tại Điện Biên Phủ, phải có gần 50 tấn/ngày, tức là mỗi ngày phải có gần 3.000 “dân công hỏa tuyến”, luồn rừng leo núi đưa vật phẩm đến từng trận địa. Theo số liệu ta dự tính thì lượng gạo cần cho chiến dịch này là 16.000 tấn, từ đó phải huy động các nguồn từ hậu phương lên là trên 25.000 tấn. Với kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc, việc vận chuyển hoàn toàn bằng sức người gánh bộ; muốn có gạo ở Nghĩa Lộ (Yên Bái) mà nguồn tiếp tế từ phía nam là Thanh Hóa lên, đường dài hơn 900 km, thì cứ 1 kg gạo đến đích, phải có 24 kg gạo ăn dọc đường. Vậy ở chiến dịch này, nếu phải vận chuyển toàn bằng dân công gánh bộ thì muốn có 16.000 tấn gạo đến đích, cũng phải nhân lên gấp 24 lần, tức là phải huy động trong dân 384.000 tấn gạo, chứ không phải là 25.000 tấn, mà muốn có 384.000 tấn gạo, phải thu cho được và tổ chức xay giã 640.000 tấn thóc; giả định nếu có thu được cũng không vận chuyển kịp vì đường quá xa, khối lượng quá lớn.

Để giải quyết gạo cho chiến dịch này, Bộ Chính trị và Chính phủ ta đã có những giải pháp rất khoa học và cách mạng; động viên nhân dân hai tỉnh Sơn La, Lai Châu ra sức tiết kiệm để đóng góp một lượng gạo lớn nhất tại chỗ, làm giảm thiểu đến mức thấp nhất khối lượng phải đưa từ xa đến, rồi nếu cần phải xin viện trợ gạo của Trung Quốc thì cũng chọn lấy ở nguồn gần nhất, còn thiếu đâu mới lấy từ các tỉnh hậu phương xa hơn.

Kết quả thật là ngoạn mục: nhờ vai trò hậu phương tại chỗ, đáp ứng kịp thời trước hết phải kể đến nhân dân Sơn La, Lai Châu vừa được giải phóng năm trước đã góp được 7.360 tấn gạo, bằng 27% tổng số huy động; gạo viện trợ của Trung Quốc từ Vân Nam xuống 1.700 tấn bằng 6,8% tổng số huy động; mua được 300 tấn gạo ở vùng Nậm Hu (Thượng Lào) sau giải phóng; còn lại 15.640 tấn đã chuyển từ các tỉnh hậu phương lên. Trong số 15.640 tấn này, đã đưa kịp tới mặt trận 6.640 tấn là đủ yêu cầu = 16.000 tấn; còn lại phải ăn dọc đường vận chuyển hết 9.000 tấn.

Riêng số 1.700 tấn gạo đưa từ biên giới Vân Nam Trung Quốc xuống, việc vận chuyển vô cùng gian nan: Trên dòng sông Nậm Na, phải vượt 102 thác ghềnh hung dữ, mới tới Lai Châu, dùng xe tiếp chuyển về Điện Biên Phủ. Dòng sông dài gần 95km, có đoạn Ba Nậm Cúm đi Pa Tần dài 35km phải chở gạo trên mảng ghép bằng nứa, đoạn Pa Tần về Lai Châu dùng thuyền ván và độc mộc. Công việc vận tải cực kỳ khó nhọc trên sông nước đó đã giao cho đại đội nữ dân công huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đảm nhận phần lớn. Các chị đã đóng 11.600 chiếc mảng ở thượng nguồn, chở gạo vượt thác về Pa Tần, lúc đầu chưa quen phải 4 người mới chở được một mảng có 100kg mà gạo vẫn bị ướt; sau phấn đấu 2 người, rồi mỗi người lái một mảng chở được 300kg xuống thác an toàn, hàng không bị ướt. Nhiều chị em khi giao xong, quần áo trên người vẫn còn ướt sũng, đã chạy bộ ven sông, ngược lên đầu nguồn để nhận mảng mới; vừa chạy cho nóng người, vừa dùng sức nóng của người mà hong khô quần áo.

Số gạo huy động ở các địa phương cho chiến dịch này thể hiện sự hy sinh lớn lao cho tiền tuyến, không gia đình nào nộp dưới mức yêu cầu, có nhiều hộ còn giao trước thời gian quy định, kể cả trong vùng tạm chiếm. Chỉ riêng tỉnh Thanh Hóa đã đóng góp hơn 9.000 tấn gạo. Đặc biệt, huyện Tuần Giáo chỉ có 11.000 dân đã góp được 1.270 tấn gạo, tức là gần 116kg/đầu người, so với năng suất canh tác lúa nương, chọc lỗ bỏ thóc giống, thì số gạo “vét tận đáy bồ” này biểu hiện lòng tin tưởng và sự hy sinh cực kỳ to lớn đối với cách mạng.

Đánh giá những sự kiện trên, một ký giả nhà binh Pháp, tướng Y.Gras trong cuốn “Lịch sử chiến tranh Đông Dương”, 25 năm sau Điện Biên thắng lợi đã viết: “Ông Giáp quan niệm rằng cả một dân tộc sẽ tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính và dự kiến của Bộ tham mưu Pháp…”.

Sau gạo là đạn, mà quan trọng nhất là đạn pháo 105 ly. Số đạn này đã tiêu thụ trong chiến dịch là trên 2 vạn viên, tuy chỉ có trọng lượng là 500 tấn trong tổng số 1.200 tấn vũ khí đạn dược toàn chiến dịch, nhưng lại là loại vũ khí mới sử dụng đầu tiên trong chiến dịch này, không những có uy lực lớn với địch mà còn uy tín mạnh mẽ với cán bộ và chiến sĩ ta.

Việc vận chuyển được số đạn này tới các trận địa pháo cũng là cả một kỳ công:

- Khối lượng lớn nhất: 11.715 viên lấy từ các kho quân khí ở hậu phương, cách xa mặt trận từ 500 đến 700km, là số lượng đạn dành dụm qua 4 năm tích lũy, suốt từ chiến dịch Biên Giới, gìn giữ cho trận đánh này.

- Đặc biệt có 400 viên đạn chiến lợi phẩm mới tinh của chiến thắng Bô Na Phào (1-1954) đã được vận chuyển cấp tốc trên đường dài 1.105km qua đường 12, 15, 41 bằng mọi phương tiện để có mặt kịp thời ở Điện Biên Phủ.

- Các chiến sĩ ở ngay mặt trận bao vây cũng đã giành giật với địch, cướp các dù đạn 105 ly do máy bay địch vội vàng thả xuống, lấy được hơn 5.000 viên, tặng lại pháo binh ta.

- Các bạn Trung Quốc cũng đóng góp cho chiến dịch này 3.600 viên, chiếm tỷ lệ 18% so với lượng đạn tiêu thụ, tuy ít nhưng cũng rất quý, đó là số đạn đi theo 24 khẩu pháo (mỗi cơ số 150 viên/khẩu) và cũng chỉ có một lần đó trong suốt chiến dịch, không đúng như lời than của Na-va: “… Sự tăng viện bất ngờ và to lớn của Trung Quốc là một nguyên nhân thất bại của Điện Biên Phủ”. Na-va thanh minh và than thở như thế, nhưng chính ông ta cũng đã có đủ tài liệu tình báo để biết rằng: gạo do Trung Quốc viện trở chỉ bằng 6,8% và đạn pháo 105 ly chỉ bằng 18% so với tổng nhu cầu của chiến dịch thì không là to lớn được; còn 24 khẩu pháo 105 ly, khi đưa từ Vân Nam sang theo đường Lào Cai, quân ta đã đóng mảng xuôi sông Hồng từ năm 1953, đài địch nói sa sả, thì đâu có gì là bất ngờ đối với Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương nữa.

Trong cuộc kháng chiến này, mặc dù sự nỗ lực chủ quan của nhân dân ta là chính, chúng ta cũng không quên ơn bạn bè, đồng chí giúp đỡ ta, chỉ có điều là đánh giá thì nói cho chính xác và đúng mức. Một điều nữa cũng cần nói thêm là mặc dù chúng ta có trong tay một số lượng đạn pháo 105 ly bằng 134 cơ số nhưng không bao giờ có việc sử dụng pháo theo cách mà tác giả Mân Lực (2-1992) đã viết trong cuốn “Chín lần xuất quân lớn của Trung Quốc”, đã trích dẫn bức điện nói là của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi đoàn cố vấn quân sự bên cạnh đồng chí Tổng Tư lệnh của ta có đoạn viết: “… Không được bắn tiếc đạn, chúng ta (Trung Quốc) sẽ cung cấp đủ đạn”. Chúng ta rất trân trọng những lời khuyên bạn bè tình nghĩa, nhưng các bạn không thể hiểu ta bằng chính chúng ta, do đó việc sử dụng đạn pháo lớn trong chiến dịch này rất tiết kiệm và nghiêm túc. Các trận đánh lớn có hiệp đồng binh chủng thì lượng đạn pháo đã được duyệt; ngoài ra nếu đơn vị bộ binh nào muốn xin pháo 105 ly bắn chi viện quá 3 viên phải xin phép Tham mưu trưởng mặt trận, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, nếu quá 10 viên thì phải được Đại tướng Tổng Tư lệnh chuẩn y. Nếu thực sự ta bắn “không tiếc đạn”, thì các khẩu pháo phải im tiếng từ lâu, trước khi tổng công kích.

Công tác tiếp vận ở chiến dịch, ngoài nhiệm vụ chuyển vật chất ra tiền tuyến, còn có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng khác là kết hợp với ngành quân y và quân nhu, chuyển thương binh về phía sau. Yêu cầu chuyển thương từ hỏa tuyến về đội điều trị đại đoàn, sau khi sơ cứu, là phải chuyển thật nhanh để cứu lấy mạng sống của thương binh; còn từ đội điều trị về bệnh viện hậu phương là phải chuyển liên tục, vừa chuyển thương vừa điều trị hộ tống, thương binh nhanh chóng được đưa về nơi điều trị toàn diện hơn, đồng thời dành đội điều trị nhận thương binh mới, vì chiến dịch kéo dài, rất khác các chiến dịch cũ, đánh xong hết đợt mới chuyển một lần. Chiến dịch Điện Biên Phủ có tổng số gần 15.000 thương binh, đã chuyển về hậu phương 9.560 người, còn lại là thương binh nhẹ trả về chiến đấu. Đưa thương binh về hậu phương được tổ chức hết sức chu đáo kết hợp cả điều trị, nuôi quân và vận tải, với khẩu hiệu: “Mỗi ô tô là một bệnh xá lưu động” và “mỗi tổ cáng thương là một gia đình thân yêu”. Mỗi chuyến chuyển thương về bệnh viện, có khi phải cả tháng, có thương binh khi nhập viện thì sức khỏe đã gần được hồi phục.

Trên tuyến đường tiếp vận thì dân công là lực lượng đông nhất tổng số 261.135 lượt người, làm nên gần 11 triệu ngày công, chỉ tính riêng từ Sơn La trở vào đã có 33.000 người, bằng 4,72 triệu ngày công. Lượng xe đạp thồ cũng rất đồ sộ: gần 21.000 chiếc, có 2.500 xe trên tuyến quân đội, mỗi xe trung bình thồ được 180 kg, cá biệt có xe của anh Cao Văn Ty ở Thanh Hóa thồ dược 320kg, anh Ma Văn Thắng ở Phú Thọ thồ được 352kg. Về đường thủy có hai tuyến phục vụ chiến dịch: Sông Hồng từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc sang và sông Mã từ Thanh Hóa lên Vạn Mai, cả hai tuyến đã huy động tới 11.800 thuyền gỗ, thuyền nan đủ loại.

Dân công không những chỉ huy động ở vùng tự do, mà có người ở vùng tạm chiếm ra. Mỗi người dân, tuy ở vùng bị địch kiềm kẹp gắt gao, nhưng mỗi khi được thôn, xã bình tuyển đi dân công, nhất là đi bộ đội, thì coi đó là một vinh dự cho mỗi người công dân, là sự tín nhiệm của cách mạng đối với mỗi gia đình, nên không ai chối từ việc được đi phục vụ tiền tuyến.

Chính Na-va cũng đã phải công nhận: “Trong vùng quân ta kiểm soát thì Việt Minh vẫn có một uy quyền bí mật, họ thu thuế, tuyển mộ người, ở đây họ chở ra rất nhiều gạo, muối, vải, thuốc và cả những chiếc xe đạp có tác dụng rất lớn trong việc tiếp tế...”

Ngoài các lực lượng và phương tiện vận tải thô sơ, Điện Biên Phủ được trang bị một số lớn xe vận tải Liên Xô, lúc cao nhất lên tới 628 chiếc. Riêng tuyến hậu cần quân đội là 352 xe, còn lại sử dụng ở tuyến hậu phương Tổng cục Cung cấp và Hội đồng chi viện tiền tuyến, kết hợp với các phương tiện huy động trong dân.

Việc phân chia ranh giới giữa hậu phương và tiền phương trong công tác tiếp vận, được chính phủ quy định tới trước giờ nổ súng, như sau: từ các tỉnh hậu phương vận chuyển lên Sơn La, do Hội đồng chi viện tiền tuyến phụ trách; từ Sơn La lên Điện Biên Phủ giao cho quân đội phụ trách.

Hội đồng chi viện tiền tuyến còn gọi là Hội đồng cung cấp mặt trận do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, ở các liên khu, một số nơi cùng có tổ chức Hội đồng ở địa phương.

Tổ chức tiếp vận ở tuyến hội đồng thường dùng dân công và xe thồ rút gạo ở các xã, huyện tập trung lên tỉnh, rồi dùng nhiều phương tiện lớn chuyển tiếp đến các kho của Hội đồng, từ đó dùng xe ô tô chuyển lên Sơn La.

Tuyến hậu cần quân đội dài 222km từ Sơn La vào Điện Biên, tổ chức thành 3 tuyến, lượng đầu xe ở mỗi tuyến tùy theo nhiệm vụ được giao, nhưng lúc nào cũng thấy thiếu hụt, nên các đại đội xe đều phải luôn luôn động viên nhau vượt vùng, tăng chuyến. Đội ngũ kỹ thuật xe phải vất vả chống lại hai bệnh hiểm nghèo của xe khi đó là: gãy nhíp xe, vì phải chở nặng trên đường quá xấu và nạn lốp xe bị vỡ quá nhiều vì chông, mìn của địch, anh em đã phát huy sáng kiến dùng thanh tre cật còn tươi, đem uốn nóng để thay cho nhíp xe và dùng bù loong sắt để ép lốp lại thay cho nhựa vá. Những sáng kiến này được anh em lái xe khen là: “Đôi khi đã cứu được bàn thua trông thấy!”.

Thời gian xe chỉ chạy trong đêm không đủ, các lái xe phải tranh thủ: “chiều đi sớm, sáng về trưa, khi mưa lâm thâm đi cả ban ngày”. Đó là khẩu hiệu hành động đã thành “thơ” của các lái xe. Họ lợi dụng lúc ban chiều, buổi sáng mai, ở vùng núi Tây Bắc có sương mù kéo dài để cho xe chạy lấn thêm một đoạn đường có ích. Nhưng thời tiết cũng có hôm dở chứng, có khi xe chạy giữa đường thì sương tan mạnh. Việc này đã xảy ra với đại đội xe 209 ngày 17 tháng 4 năm 1954, có 12 xe chở đầy đạn pháo 105 ly đang cấp tốc ra mặt trận, xe vượt đèo Pha Đin lúc 8 giờ sáng thì sương tan, máy bay địch lao xuống dội bom, quét đại liên vào đoàn xe, nhưng các chiến sĩ lái xe dũng cảm đã bình tĩnh cho xe chạy phân tán, giấu xe sau những khúc đường quanh co. Đại đội súng máy cao xạ đã tập trung bắn quyết liệt vào những máy bay đang bổ nhào. Một xe được lệnh tiếp tục chạy nhanh để hút mục tiêu của máy bay. Hai xe khác lao xuống suối cạn để giảm bớt mật độ. Chỉ một thời gian ngắn hoạt động không có hiệu quả, máy bay chuyển sang hướng khác. Lực lượng cứu thương, cứu xe đến kịp thời, người bị thương được săn sóc, đạn lại lên xe, tiếp tục vào trận địa.

Mùa mưa đã bắt đầu, nước tuôn xối xả nát nhão mặt đường. Thời gian nổ súng lui lại 46 ngày làm cho khối lượng vận tải tăng thêm. Cán bộ, chiến sĩ hậu cần, vận tải, dân công, thanh niên xung phong đã dầu dãi trên mặt đường trải qua ba mùa mưa nắng: đông 1953, xuân 1954 và hè năm 1954, sức khỏe suy giảm rõ rệt, nhưng lượng gạo vào mặt trận vẫn chưa đạt mức có dự trữ.

Vào một ngày đầu tháng 4 năm 1954, trên một tấm biểu đồ treo ở Sở chỉ huy của Tổng Tư lệnh ở Mường Phăng, theo dõi tiến độ gạo nhập kho của mặt trận, mũi tên chỉ con số gạo nhập hàng ngày cứ nhích dần xuống, có ngày là số 0. Chủ nhiệm cung cấp mặt trận và các cán bộ chỉ huy tuyến được triệu tập cấp tốc về để bàn các phương án khắc phục. Xe của tuyến quân đội phải lùi về tuyến hậu phương vớt gạo lên. Cần phải huy động thêm gạo và tăng lượng dân công mới lên tuyến Hội đồng vì các kho phía sau cũng hết gạo và kiến nghị nhiều biện pháp khác nữa lên Đảng ủy Mặt trận.

Đảng ủy mặt trận báo cáo cấp tốc về Bộ Chính trị. Ngày 19 tháng 4 năm 1954, nghị quyết của Bộ Chính trị kèm theo thư của Tổng Bí thư Trường Chinh gửi ra mặt trận có đoạn viết: “Toàn Đảng, toàn dân và Chính phủ quyết đem toàn lực chi viện cho chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này”.

Các đồng chí ủy viên Trung ương Đảng được cử về các địa phương đôn đốc việc tiếp vận. Bộ Chính trị và Chính phủ quyết định huy động thêm 10 vạn dân công mới, 1 vạn tấn gạo, 500 tấn thịt đưa gấp ra tiền tuyến.

Ngày 25 tháng 4 năm 1954, báo Nhân Dân ra lời kêu gọi đối với hậu phương mà làm nức lòng cả những người đang ở tiền tuyến: “Mỗi khi tiền tuyến cần gì, chúng ta trả lời: Có. Mỗi khi tiền tuyến đề ra việc gì, chúng ta trả lời: Làm được! Không thể trả lời: Không có, Không được! Đó là cụ thể hóa: tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Những nghị quyết đúng đắn và lời kêu gọi thiết tha của Đảng động viên cả nước nô nức lên đường. Hậu phương quốc gia lại một phen chuyển động, một lần nữa tỏ rõ sức mạnh vững chắc của mình. Những khó khăn về tiếp vận nhanh chóng được khắc phục. Không ai nghĩ rằng chỉ chưa đầy 20 ngày sau đó, trận đánh “chấn động địa cầu” đã kết thúc, nhưng nếu trên trận tuyến tiếp vận khi ấy, dù chỉ một ngày bị vỡ, thì hậu quả sẽ không ai lường trước được.

Trong khi tập trung tiếp vận lên mặt trận, quân và dân ta không ngừng triệt phá đường tiếp vận của đối phương bằng những đòn tấn công dồn dập ở cả hậu phương địch và trên chiến trường, đánh vào những nơi yếu và hiểm yếu của chúng.

Chúng ta được biết: lượng máy bay của địch tiếp tế cho Điện Biên Phủ chiếm gần 75% số máy bay vận tải toàn Đông Dương khi đó, có lúc lại đậu chủ yếu ở hai sân bay: Gia Lâm và Cát Bi, trong đó có một số máy bay của Mỹ giúp Pháp việc tiếp vận. Bộ Tổng Tư lệnh ta đã chỉ thị cho điều tra chính xác thời cơ tập trung máy bay đông nhất, để tập kích mãnh liệt vào hai sân bay, phá hủy nhiều máy bay địch, trong đó có những máy bay vận tải lớn, đúng vào lúc ở Điện Biên Phủ, địch đang cực khổ vì thiếu phương tiện tiếp vận.

Mặt khác, tại ngay chiến trường, với chiến thuật vây lấn, đào hào, từng bước thắt chặt vòng vây, thu hẹp cả vùng đất và vùng trời của địch, tiến tới cắt đứt sân bay Mường Thanh, cái dạ dày của “con nhím” khổng lồ này. Khi các cỡ pháo lớn, nhỏ của ta đã áp sát sân bay, trận địa cao xạ 37 ly đã tiến ra cánh đồng Mường Thanh, những đồn bót cuối cùng bảo vệ sân bay lần lượt bị tiêu diệt, thì cái dạ dày phục vụ tiếp vận của tập đoàn cứ điểm hoàn toàn bị tê liệt, kể cả việc lấy thương binh, nếu Bộ chỉ huy Pháp không xin phép ta, thì cũng không tài nào thực hiện được. Nếu chúng liều lĩnh cho quân nhảy dù “nhảy đại” xuống thì đại đã số lại được trở về trại tù binh của ta; nếu chúng cố tình thả dù lương thực, đạn dược thì đại bộ phận lại rơi xuống chiến hào của ta; có cái dù nào rơi gần địch, chúng cũng không dám lấy ngay, vì bị lực lượng ta bắn tỉa và giành giật. Đến cả lon cấp tướng của Đờcátxtơri và rượu sâm banh ăn mừng thăng cấp của hắn cũng bị rơi vào tay các chiến sĩ ta.

Cuối cùng là sự thất bại tiếp vận của địch là không sao tránh khỏi trước cách đánh toàn diện và triệt để của nhân dân và quân đội ta cả ở hậu phương địch và trên chiến trường. Sự thất bại trong hoạt động tiếp vận của địch đã góp phần to lớn vào sự sụp đổ của toàn bộ tập đoàn cứ điểm mà chúng khoe là “không thể công phá nổi” của cái gọi là “Véc-đoong ở châu Á” này.

Khi trận đánh vĩ đại đã lùi vào quá khứ, đủ thời gian cho những ký giả, các nhà chính khách phương Tây suy ngẫm tương đối khách quan, thì có người nhận xét rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên hết và trước hết là những chiến thắng về tổ chức tiếp vận của Việt Minh”. Đó là ký giả Béc-na Phôn, viết trong cuốn “Việt Minh 1945-1960”. Chúng ta nên nhớ rằng ông ta là một nhà báo Mỹ, kẻ từng hù dọa ta ở hội nghị Pa-ri rằng: Tiềm lực quân sự Mỹ như một xe hủ lô cán đường, khi nó lăn qua, trên mặt đất không còn dấu hiệu của sự sống nữa!

Lại còn một chính khách quen thuộc khác, Na-va, đã công nhận: “Bộ chỉ huy Việt Minh đã phác họa thật hay về công việc tiếp vận của họ. Chúng ta phải thừa nhận sự cố gắng lớn lao của nhân dân họ chi viện cho quân đội họ và khâm phục khả năng của Bộ chỉ huy và Chính phủ đối phương đã biết cách đạt hiệu quả đó”.

Tất nhiên, các chính khách và tướng lĩnh phương Tây, nhiều người chưa thể thấy được đầy đủ những nguyên nhân thắng lợi của công tác tiếp vận của chúng ta là bắt nguồn từ chiến tranh nhân dân và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài giỏi của Đảng ta, đã xây dựng hậu phương thường xuyên vững chắc mà chính từ hậu phương vững chắc này đã huy động được sức mạnh của toàn dân chi viện cho tiền tuyến, trong đó có đông đảo lực lượng nông dân, sau thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất, đã hồ hởi xung phong trên các nẻo đường tiếp vận, cùng với những người nông dân mặc áo lính ở các chiến hào, đã góp sức làm nên chiến thắng này.

Chính những kinh nghiệm quý báu về xây dựng hậu phương và tổ chức tiếp vận ở chiến dịch Điện Biên Phủ đã giúp chúng ta thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tiếp vận cho chiến trường miền Nam trên con đường mang tên Bác kính yêu, suốt 16 năm chống đế quốc Mỹ, từ năm 1959, bắt đầu mở đường mòn Hồ Chí Minh cho đến ngày thắng lợi cuối cùng.

m.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn