TRẦN VĂN ĐỆ – NGƯỜI CHIẾN SĨ ĐẶC CÔNG NẰM LẠI DƯỚI CẦU HÓA AN
Rạng sáng 21-10-1974, một tổ đặc công nước gồm bốn chiến sĩ bí mật đưa 700kg thuốc nổ tiếp cận trụ cầu Hóa An trên sông Đồng Nai. Trần Văn Đệ cùng Nguyễn Trung Thường và Triệu Văn Thiết đã hy sinh khi khối bộc phá phát nổ, nhưng hai nhịp giữa cây cầu bị đánh sập, cắt đứt một tuyến giao thông quan trọng của đối phương.
Thời kỳ lịch sử: Kháng chiến chống Mỹ, trận đánh cầu Hóa An – Biên Hòa, rạng sáng ngày 21-10-1974.
1. BỐN NGƯỜI LÍNH VÀ MỘT NHIỆM VỤ ĐẶC BIỆT
Đầu năm 1974, Tiểu đoàn Đặc công 23, một đơn vị đặc công nước được thành lập ở miền Bắc, được điều vào chiến trường Đông Nam Bộ và trực thuộc Trung đoàn 113.
Trong đội hình ấy có những người lính đã quen với những nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm.
Một trong số đó là Trần Văn Đệ.
Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, trước khi được giao nhiệm vụ đánh cầu Hóa An, Trần Văn Đệ cùng Nguyễn Trung Thường và Triệu Văn Thiết đã từng tham gia chiến đấu, đánh sập nhiều mục tiêu cầu, cống của đối phương trên đất Campuchia.
Tháng 10-1974, Bộ Chỉ huy Miền giao cho Trung đoàn 113 nhiệm vụ phá hủy cầu Hóa An, còn gọi là cầu Mới, bắc qua sông Đồng Nai, gần thị xã Biên Hòa.
Cây cầu này được xây dựng từ năm 1970, với sự tham gia của công binh Mỹ và công binh Nam Triều Tiên. Nó nằm trên một tuyến giao thông quan trọng, phục vụ việc cơ động lực lượng và vận chuyển của đối phương.
Muốn đánh sập cây cầu ấy không thể chỉ dựa vào sức mạnh hỏa lực.
Phải có những người đủ khả năng bơi trong đêm, vượt qua hệ thống canh phòng, đưa khối thuốc nổ đến tận trụ cầu.
Nhiệm vụ được giao cho bốn người:
Nguyễn Trung Thường – Tổ trưởng.
Triệu Văn Thiết – Tổ phó.
Trần Văn Đệ – Tổ viên.
Nguyễn Văn Thưởng – Tổ viên.
Bốn người.
Một cây cầu.
Và một nhiệm vụ mà họ hiểu rất rõ: có thể không có đường trở về.
2. DÒNG SÔNG ĐỒNG NAI VÀ NHỮNG GIỜ TRINH SÁT
Trước khi bốn chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ, việc đầu tiên phải làm là nắm chắc cây cầu.
Địch biết cây cầu quan trọng.
Và chúng cũng hiểu rằng nếu cầu bị phá, hoạt động giao thông sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Vì thế, khu vực cầu được bảo vệ nghiêm ngặt.
Hai chiến sĩ Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Trung Thường được giao nhiệm vụ trinh sát.
Họ phải vượt qua đồn bốt, các ổ phục kích và những trạm gác.
Họ ngâm mình dưới dòng sông hàng chục giờ.
Luồn qua bùn lầy, kênh rạch, bãi trống và những chướng ngại vật tự nhiên để tiếp cận cây cầu.
Cuối cùng, họ vào được khu vực gầm cầu.
Không chỉ quan sát.
Họ còn tiếp cận trụ cầu giữa sông, đánh giá độ vững chắc, xác định vị trí đặt bộc phá và tính toán lượng thuốc nổ cần thiết.
Đây là phần việc âm thầm nhất của trận đánh.
Không có tiếng súng.
Không có tiếng hô xung phong.
Chỉ có những người lính đặc công nằm trong bóng tối, lặng lẽ ghi nhớ từng đặc điểm của mục tiêu.
Bởi khi trận đánh bắt đầu, mỗi mét khoảng cách, mỗi phút thời gian và mỗi vị trí của đối phương đều có thể quyết định sự sống còn.
Sau khi hoàn tất trinh sát, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 23 lựa chọn bốn chiến sĩ.
Trong đó có Trần Văn Đệ.
Chú thích ảnh: Hình ảnh tư liệu về cầu Hóa An và khu vực sông Đồng Nai. Ảnh dùng để hình dung địa bàn chiến đấu, không phải ảnh chụp Trần Văn Đệ trong lúc trinh sát.
Nguồn ảnh: Tư liệu lịch sử về cầu Hóa An được Báo Quân đội nhân dân và các cơ quan báo chí sử dụng khi viết về trận đánh năm 1974.
3. 700KG THUỐC NỔ TRONG ĐÊM
Một vấn đề quan trọng được đặt ra:
Bao nhiêu thuốc nổ mới đủ sức đánh sập cây cầu?
Ban đầu, các chiến sĩ tính toán khoảng 450 đến 500kg.
Nhưng nếu không thể đưa khối thuốc nổ sát vào trụ cầu thì lượng ấy có thể không đủ.
Vì vậy, phương án được nâng lên 700kg thuốc nổ.
700kg.
Một khối lượng khổng lồ đối với những người phải bí mật đưa nó đi trong nước.
Các chiến sĩ chắp nối, gói buộc thuốc nổ thành một khối bộc phá, gắn cả đầu nổ hẹn giờ và đầu nổ tức thì.
Đêm xuống.
Bốn người lặng lẽ xuất phát.
Họ không đi trên đường.
Không có xe.
Không có phương tiện cơ giới.
Họ phải bơi và thả theo dòng nước, đưa khối thuốc nổ về phía cây cầu.
Trong bóng tối của sông Đồng Nai, một khối bộc phá nặng hàng trăm kilôgam đang được những người lính đặc công đưa từng chút một đến mục tiêu.
Đó là một công việc đòi hỏi sức chịu đựng phi thường.
Nhưng nguy hiểm nhất vẫn còn ở phía trước.
Bởi đối phương đã bố trí lực lượng bảo vệ cầu.
Chỉ cần bị phát hiện sớm, cả tổ có thể bị tiêu diệt trước khi hoàn thành nhiệm vụ.
Chú thích ảnh: Hình ảnh tư liệu về lực lượng đặc công nước Việt Nam. Đây là ảnh bối cảnh về phương thức chiến đấu, không phải ảnh xác định Trần Văn Đệ hoặc tổ Hóa An đang thực hiện nhiệm vụ.
Nguồn ảnh: Tư liệu về lực lượng Đặc công Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
4. “ĐÃ BỊ LỘ!”
Đêm ấy, khi tổ đặc công tiến gần mục tiêu, tình huống bất ngờ xảy ra.
Địch phát hiện.
Tiếng súng vang lên trên mặt sông.
Nguyễn Trung Thường lập tức hô:
“Theo phương án hai! Nhanh lên, đừng chần chừ nữa!”
Trong khoảnh khắc ấy, bốn người phải thực hiện phương án đã chuẩn bị từ trước.
Nguyễn Văn Thưởng lặn ra xa đội hình.
Anh cố ý tạo tiếng động, thu hút sự chú ý của đối phương và đánh lạc hướng những chiếc ca-nô đang truy đuổi.
Trong khi đó, Nguyễn Trung Thường, Triệu Văn Thiết và Trần Văn Đệ tiếp tục đẩy khối thuốc nổ về phía trụ cầu.
Đó là phần nguy hiểm nhất.
Ba người phải đưa khối bộc phá đến đúng vị trí.
Đối phương không bị đánh lạc hướng hoàn toàn.
Một số ca-nô vẫn bám theo ba chiến sĩ.
Tiếng súng.
Tiếng động cơ.
Tiếng nước bị xé ra trong đêm.
Và ở giữa dòng sông, ba người lính vẫn tiếp tục tiến về phía trụ cầu.
Trần Văn Đệ không quay lại.
Không có nhiều tư liệu mô tả suy nghĩ của ông trong những giây phút ấy.
Vì vậy, chúng ta không nên tự viết ra những lời động viên hay lời trăn trối mà hồ sơ không ghi lại.
Chỉ có một điều chắc chắn:
Ông cùng hai đồng đội tiếp tục đưa khối thuốc nổ đến mục tiêu.
Và họ đã làm được.
5. 2 GIỜ 15 PHÚT – CẦU HÓA AN SỤP ĐỔ
Khối bộc phá đã được đưa sát trụ cầu.
Ba người lính chuẩn bị điểm hỏa.
Nguyễn Trung Thường.
Triệu Văn Thiết.
Trần Văn Đệ.
Và rồi…
2 giờ 15 phút ngày 21-10-1974.
Một tiếng nổ kinh hoàng xé toạc màn đêm.
Sức nổ rung chuyển cả một vùng.
Hai nhịp giữa cầu Hóa An bị đánh sập.
Một tuyến giao thông quan trọng của đối phương bị cắt đứt.
Nhưng sau tiếng nổ ấy là sự hy sinh của ba người.
Nguyễn Trung Thường hy sinh.
Triệu Văn Thiết hy sinh.
Trần Văn Đệ hy sinh.
Người sống sót duy nhất của tổ là Nguyễn Văn Thưởng.
Sức ép của vụ nổ hất anh lên bãi sông, khiến anh bất tỉnh.
Đến sáng, người dân địa phương phát hiện anh và chỉ đường để anh tìm về đơn vị.
Ba ngày sau, Thưởng mới trở về căn cứ.
Cây cầu đã bị phá.
Nhưng ba người lính không trở lại.
Đó là cái giá của trận đánh.
Và cũng là lý do khi kể về một chiến công, chúng ta không thể chỉ nói về mục tiêu đã bị phá hủy.
Phía sau một tiếng nổ là những con người.
Những người đã đưa khối thuốc nổ đến đó.
Những người biết rằng nhiệm vụ này có thể là chuyến đi cuối cùng.
Và Trần Văn Đệ là một trong ba người đã nằm lại dưới dòng sông Đồng Nai trong đêm ấy.
6. NGƯỜI SỐNG SÓT KHÔNG QUÊN BA ĐỒNG ĐỘI
Nguyễn Văn Thưởng là người duy nhất sống sót trong bốn chiến sĩ trực tiếp đánh cầu.
Sau trận đánh, ông trở về đơn vị.
Nhưng từ đó, cuộc đời ông mang theo ký ức về ba người đã không trở lại.
Nguyễn Trung Thường.
Triệu Văn Thiết.
Trần Văn Đệ.
Hơn bốn mươi năm sau, khi kể lại trận đánh, ông vẫn nhắc đến họ.
Báo Quân đội nhân dân đăng hình ảnh tổ đặc công với bốn gương mặt của năm xưa; trong đó Trần Văn Đệ đứng ở hàng trên, bên cạnh những người đồng đội đã cùng ông thực hiện nhiệm vụ.
Năm 2014, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Tổ đặc công đánh cầu Hóa An.
Ngày 16-12-2014, quyết định ấy chính thức được công bố.
Đó là sự ghi nhận đối với tập thể bốn người và chiến công của họ.
Cả bốn chiến sĩ trong tổ cũng được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì.
Vì vậy, khi nhắc đến Trần Văn Đệ, điều chính xác nhất là gọi ông là:
Liệt sĩ Trần Văn Đệ – chiến sĩ đặc công thuộc Tổ đặc công đánh cầu Hóa An, một trong những người đã hy sinh trong chiến công được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho cả tổ.
Không cần thêm thắt.
Bởi sự thật ấy đã đủ xúc động.
LỜI KẾT – BA NGƯỜI NẰM LẠI, MỘT CÂY CẦU ĐỔ XUỐNG
Rạng sáng 21-10-1974, trên sông Đồng Nai có bốn người lính đặc công đi vào một nhiệm vụ mà họ biết trước là cực kỳ nguy hiểm.
Nguyễn Trung Thường.
Triệu Văn Thiết.
Trần Văn Đệ.
Nguyễn Văn Thưởng.
Họ mang theo 700kg thuốc nổ.
Họ vượt qua màn đêm.
Họ tiếp cận cây cầu.
Khi bị phát hiện, Nguyễn Văn Thưởng đánh lạc hướng đối phương.
Ba người còn lại tiếp tục đưa khối bộc phá vào trụ cầu.
Trong số đó có Trần Văn Đệ.
2 giờ 15 phút.
Tiếng nổ vang lên.
Hai nhịp giữa cầu Hóa An đổ xuống.
Và ba người lính hy sinh.
Chú thích ảnh: Cầu Hóa An và khu vực sông Đồng Nai ngày nay. Cây cầu hiện tại là công trình của thời bình, không phải cây cầu nguyên trạng năm 1974. Hình ảnh được sử dụng ở lời kết để đối chiếu giữa chiến trường năm xưa và cuộc sống hôm nay.
Nguồn ảnh: Hình ảnh hiện trạng cầu Hóa An và khu vực sông Đồng Nai; tư liệu lịch sử về trận đánh xác định cầu Hóa An năm 1974 là mục tiêu của Tổ đặc công thuộc Tiểu đoàn 23.
Có thể hôm nay, khi đứng bên cầu Hóa An, rất khó hình dung tiếng nổ năm ấy.
Xe cộ qua lại.
Dòng sông vẫn chảy.
Nhịp cầu nối đôi bờ.
Không còn những người lính phải ngâm mình trong nước hàng chục giờ.
Không còn những ca-nô truy đuổi giữa đêm.
Không còn tiếng súng vang trên mặt sông.
Nhưng chính sự bình yên ấy khiến chúng ta càng phải nhớ về những người đã nằm lại.
Trần Văn Đệ không trở về.
Ông không được nhìn thấy ngày đất nước thống nhất chỉ vài tháng sau đó.
Ông không biết rằng chưa đầy nửa năm sau, những cánh quân sẽ tiến vào Sài Gòn.
Ông cũng không biết rằng chiến công của tổ đặc công đánh cầu Hóa An sẽ trở thành một phần trong những trận đánh tạo thế, tạo lực cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.
Nhưng chúng ta biết.
Và vì biết, chúng ta có trách nhiệm nhớ.
Nhớ rằng phía sau một cây cầu bị đánh sập là những con người bằng xương bằng thịt.
Nhớ rằng Trần Văn Đệ không phải một cái tên vô danh.
Ông là một người lính đặc công.
Một người đã cùng đồng đội đưa khối thuốc nổ đến tận trụ cầu.
Một người đã hy sinh khi nhiệm vụ hoàn thành.
Và ông là một trong ba chiến sĩ đã nằm lại để cây cầu Hóa An bị đánh sập.
Năm 2014, Tổ đặc công đánh cầu Hóa An được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Danh hiệu ấy thuộc về cả một tập thể.
Nhưng trong tập thể ấy có những người đã không còn sống để nhận biết sự ghi nhận của Tổ quốc.
Trần Văn Đệ là một trong số đó.
Vì vậy, khi chúng ta kể lại câu chuyện này, điều quan trọng không phải là làm cho câu chuyện trở nên bi tráng hơn thực tế.
Mà là kể đúng.
Đúng tên.
Đúng đơn vị.
Đúng ngày tháng.
Đúng nhiệm vụ.
Đúng sự hy sinh.
Để thế hệ hôm nay hiểu rằng con đường dẫn đến hòa bình không chỉ được tạo nên bởi những chiến dịch lớn.
Nó còn được tạo nên từ những trận đánh âm thầm.
Từ những người lính bơi trong đêm.
Từ những người mang theo hàng trăm kilôgam thuốc nổ.
Và từ những người biết rằng có thể mình sẽ không trở về nhưng vẫn bước tiếp.
Xin nghiêng mình trước liệt sĩ Trần Văn Đệ.
Xin tưởng nhớ Nguyễn Trung Thường và Triệu Văn Thiết – hai người đồng đội đã cùng ông nằm lại trong trận đánh ấy.
Và xin gửi lòng biết ơn đến Nguyễn Văn Thưởng – người sống sót, người đã mang ký ức về ba đồng đội đi qua những năm tháng sau chiến tranh.
Một cây cầu có thể được xây lại.
Một dòng sông vẫn có thể tiếp tục chảy.
Nhưng một con người đã hy sinh thì không thể trở về.
Điều chúng ta có thể làm là không để tên tuổi và sự hy sinh của họ bị chìm vào quên lãng.



