TRẦN VĂN ĐÌNH – MŨI ĐẶC CÔNG THỌC SÂU GIỮA LÒNG ĐỊCH
Anh hùng LLVTND Trần Văn Đình (sinh năm 1943) quê xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ tháng 8/1960. Tháng 1/1965, ông được điều về lực lượng đặc công và mới học 9 ngày đã xin tham gia điều tra, chuẩn bị chiến trường. Trong hai năm 1965–1966, ông trực tiếp chiến đấu 9 trận, nổi bật tại Chà Vu, Ba Gia và Chóp Chai, với tác phong đánh nhanh, mạnh, bất ngờ và thọc sâu vào những vị trí trọng yếu. Khi được tuyên dương, ông là Đội phó đặc công thuộc Sư đoàn 2, Quân khu 5. Ngày 17/9/1967, Trần Văn Đình được tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng LLVTND giải phóng.
Trong đội hình đặc công, người chiến sĩ không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn phải tỉ mỉ khi trinh sát, bí mật khi tiếp cận, quyết đoán khi nổ súng và thật nhanh khi thọc sâu vào mục tiêu. Anh hùng Trần Văn Đình là một người lính như thế. Từ chiến sĩ bộ binh, nuôi quân, sản xuất, ông trưởng thành thành Đội phó đặc công thuộc Sư đoàn 2, Quân khu 5, nổi bật qua những trận Chà Vu, Ba Gia và Chóp Chai.
Từ Điện Bàn lên đường theo cách mạng
Trần Văn Đình sinh năm 1943, dân tộc Kinh, quê tại xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
Được cách mạng giáo dục và giác ngộ, tháng 8/1960, khi mới khoảng 17 tuổi, Trần Văn Đình đã vận động thêm 2 thanh niên bí mật rời quê, tìm đến vùng căn cứ để tham gia bộ đội.
Những năm đầu trong quân ngũ không phải lúc nào ông cũng trực tiếp cầm súng chiến đấu. Trần Văn Đình từng được bố trí ở đơn vị bộ binh, làm chiến sĩ nuôi quân và tham gia sản xuất.
Dù ở nhiệm vụ nào, ông cũng cần cù, tận tụy và cố gắng hoàn thành công việc được giao.
Bước ngoặt đến vào tháng 1/1965, khi Trần Văn Đình được điều về đơn vị đặc công.
Mới học đặc công 9 ngày đã xin đi trinh sát
Đặc công là lực lượng đòi hỏi người chiến sĩ phải có kỹ thuật, bản lĩnh và khả năng hoạt động độc lập cao.
Trần Văn Đình đặc biệt háo hức được trực tiếp chiến đấu.
Theo tư liệu, mới học được 9 ngày, ông đã xin tham gia nhiệm vụ điều tra, chuẩn bị chiến trường.
Trong hoạt động trinh sát, Trần Văn Đình hình thành tác phong cụ thể, tỉ mỉ và chính xác. Ông kiên trì bám mục tiêu, nghiên cứu địa hình, nắm tình hình để chuẩn bị đường cơ động cho lực lượng tiến công.
Khi bước vào trận đánh, phong cách ấy chuyển thành:
Đánh nhanh – đánh mạnh – thọc sâu – tạo bất ngờ.
Chỉ trong hai năm 1965–1966, Trần Văn Đình đã tham gia chuẩn bị nhiều trận đánh và trực tiếp chiến đấu 9 trận, theo tư liệu ghi nhận ông diệt 36 đối phương, trong đó có 7 lính Mỹ; bắt sống 5 người và thu 21 khẩu súng các loại.
Chà Vu – bị thương vẫn tiếp tục đánh các hỏa điểm
Tháng 4/1965, Trần Văn Đình tham gia trận đánh đồn Chà Vu.
Ngay khi có lệnh nổ súng, ông nhanh chóng phát triển vào sâu bên trong vị trí đối phương.
Trong quá trình chiến đấu, Trần Văn Đình bị thương.
Nhưng ông không rời vị trí.
Tiếp tục sử dụng tiểu liên và thủ pháo, Trần Văn Đình cùng đồng đội lần lượt đánh các hỏa điểm, hỗ trợ phân đội phát triển tiến công.
Chỉ sau một thời gian ngắn, phân đội hoàn thành nhiệm vụ tại mục tiêu và rút ra an toàn.
Vết thương của trận Chà Vu chưa kịp lành hẳn thì một trận đánh lớn khác lại đến.
Ba Gia – vừa rời bệnh xá đã xin trở lại chiến đấu
Tháng 5/1965, Trần Văn Đình vừa từ bệnh xá trở về.
Vết thương vẫn chưa hoàn toàn bình phục, nhưng ông tiếp tục xin tham gia nhiệm vụ trong trận Ba Gia.
Tình huống diễn biến bất lợi ngay từ đầu.
Khi đội hình vừa bố trí xong, đối phương phát hiện và nổ súng trước.
Trần Văn Đình lập tức lao lên, dùng tiểu liên đánh trả nhằm giành lại thế chủ động.
Khi đối phương rút, ông tiếp tục bám sát truy kích.
Theo tư liệu, trong quá trình này, Trần Văn Đình diệt 3 đối phương và bắt sống 2 người.
Sau đó, ông cùng phân đội thực hiện nhiệm vụ nghi binh, hỗ trợ cho đơn vị bạn triển khai tiến công và tiêu diệt một tiểu đoàn đối phương.
Chóp Chai – từ người mở đường thành mũi thọc sâu
Tháng 3/1966, Trần Văn Đình tham gia trận Chóp Chai.
Ban đầu, nhiệm vụ của ông là chuẩn bị chiến trường.
Trần Văn Đình kiên trì bám địa bàn, nghiên cứu và chuẩn bị đường cơ động, giúp lực lượng tiếp cận mục tiêu nhanh chóng, an toàn.
Nhưng khi trận đánh bắt đầu, một tình huống khó khăn xuất hiện:
Mũi chính diện chưa phát triển lên được.
Trần Văn Đình lập tức dẫn phân đội tiến vào.
Ông cùng đồng đội dùng thủ pháo đánh sập ba gian nhà, sau đó vượt hào giao thông và đánh chiếm ổ đại liên đang cản trở đội hình tiến công.
Không dừng lại ở đó, Trần Văn Đình tiếp tục chủ động phát triển sâu hơn vào khu vực trọng yếu.
Mục tiêu tiếp theo là khu nhà chỉ huy, nhà điện đài và trận địa súng cối.
Việc đánh vào những vị trí này hỗ trợ trực tiếp cho mũi chính diện và tạo điều kiện để lực lượng phía sau phát triển.
Cuối cùng, đơn vị tiêu diệt gọn một đại đội đối phương và làm chủ trận địa.
Trận Chóp Chai cho thấy khá rõ phẩm chất của Trần Văn Đình: ông không chỉ là người thực hiện nhiệm vụ trinh sát, mở đường mà khi tình huống thay đổi còn có thể nhanh chóng chuyển sang chỉ huy mũi đột kích, chủ động đánh vào những mục tiêu then chốt.
Người đội phó đặc công của Sư đoàn 2
Qua chiến đấu, Trần Văn Đình trưởng thành thành Đội phó đặc công thuộc Sư đoàn 2, Quân khu 5.
Trong sinh hoạt và công tác, ông được ghi nhận là người gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, đoàn kết và quan tâm đến đồng đội.
Những phẩm chất ấy đi cùng một phong cách chiến đấu đặc trưng của người lính đặc công:
Trinh sát kỹ – tiếp cận bí mật – ra đòn bất ngờ – thọc sâu quyết liệt.
Với thành tích đạt được, Trần Văn Đình được tặng 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, cùng 4 bằng khen và giấy khen; đạt các danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 3, Dũng sĩ Quyết thắng và Chiến sĩ thi đua.
Ngày 17/9/1967, Trần Văn Đình được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
Từ một thanh niên 17 tuổi bí mật rời quê Điện Bàn đi theo cách mạng, trải qua nhiệm vụ bộ binh, nuôi quân, sản xuất rồi trở thành cán bộ đặc công, Trần Văn Đình đã trưởng thành ngay giữa chiến trường.
Đặc biệt, câu chuyện “mới học đặc công 9 ngày đã xin đi chuẩn bị chiến trường” phần nào khắc họa tinh thần của người chiến sĩ ấy: luôn muốn có mặt ở nơi nhiệm vụ khó khăn nhất và khi đã bước vào trận đánh thì quyết tâm đi đến cùng.



