Trần Văn Thành và cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa

Trần Văn Thành quê quán tại làng Bình Thạnh Đông, tổng Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Năm 1840, ông gia nhập quân đội triều Nguyễn. Dưới thời vua Tự Đức, ông giữ chức Chánh Quản cơ nên còn gọi là Quản cơ Thành. Sau đó, ông xin giải ngũ về trú ngụ tại Cồn Nhỏ (nay thuộc xã Phú Bình, Phú Tân) để khai khẩn đất hoang. Năm 1849, Trần Văn Thành gia nhập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên (Phật Thầy Tây An). Giữa lúc triều Nguyễn đề ra chính sách khẩn hoang lập làng ở An Giang, năm 1851, ông cùng gia đình đến vùng trũng Láng Linh để chiêu mộ nhiều người đến khẩn hoang đất đai, lập ra Bửu Hương Các (nay thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú).
Ngày 22-6-1867, thực dân Pháp đánh chiếm An Giang, Trần Văn Thành tố chức lực lượng nghĩa quân cùng nhân dân trong vùng lập bè cản tàu chiến giặc trên sông Hậu tại Cồn Nhỏ, đánh phá các đồn lẻ của giặc ở xa trung tâm. Sau khi tập trung lực lượng tấn công thành An Giang (ở Châu Đốc - tháng 11-1867) không thành, đầu năm 1868, Trần Văn Thành cùng nghĩa quân rút vào rừng Bảy Thưa trong Láng Linh chiêu mộ nghĩa binh lập căn cứ tổ chức kháng chiến chống Pháp.
Do là một trong những lãnh tụ có uy tín của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương và uy tín có được từ khả năng hoạt động quân sự trong quân đội nhà Nguyễn nên ông nhanh chóng tập hợp những nông dân yêu nước, trước hết là những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương yêu nước đang căm thù thực dân Pháp xâm lược và quan lại phong kiến đầu hàng. Đến năm 1870, ông chiêu mộ nghĩa binh được khoảng 1.200 người.
Căn cứ chính của ông đặt tại đồn Hưng Trung (nay nằm trên nền chùa Nam Long Tự thuộc xã Đào Hữu Cảnh, Châu Phú). Xung quanh đồn Hưng Trung còn thiết lập các đồn làm tuyến ngăn giặc như phía hữu có đồn Sơn Trung (nay thuộc xã Vĩnh An, huyện Châu Thành) và đồn Giồng Nghệ (nay thuộc xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành); phía trước có đồn Cái Môn (nay thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú) và đồn Hờ (ở rạch Cái Dầu, huyện Châu Phú); phía sau có trạm canh Ông Tà (nay thuộc xã Tà Đảnh, huyện Tri Tôn).
Trong thời gian chuẩn bị lực lượng, năm 1872, mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Trần Văn Thành trong việc chiêu tập tín đồ và phát hiện âm mưu chuẩn bị khởi nghĩa. Biết căn cứ bị bại lộ, Trần Văn Thành chủ động khởi nghĩa. Ông phất cờ khởi nghĩa, lấy danh hiệu là đội quân Binh Gia Nghị, tuyên bố đánh Pháp. Từ tháng 4-1872, quân khởi nghĩa có những hoạt động chiến đấu tấn công vào quân Pháp đóng xung quanh căn cứ Bảy Thưa, dọc theo sông Hậu và rạch Mặc Cần Dưng.
Tháng 6-1872, quân Pháp mở cuộc tấn công đầu tiên vào căn cứ Bảy Thưa. Cuộc giao chiến diễn ra ác liệt ở đồn Giồng Nghệ. Cuối cùng quân Pháp buộc phải rút lui khỏi Giồng Nghệ. Thực dân Pháp thay đổi chiến thuật, tìm cách chiêu dụ Trần Văn Thành và các nghĩa quân ở Láng Linh.
Sau nhiều lần chiêu dụ không thành, tháng 3-1873, quân Pháp tấn công quy mô vào căn cứ Bảy Thưa. Cuộc tấn công này do chủ tỉnh Long Xuyên Emile Puech và đại úy Pháp Gayon chỉ huy với sự hỗ trợ đắc lực của Tri huyện Trần Bá Tường và Phó quản Hiến (trước đây là quân Bảy Thưa). Emile Puech điều thêm 40 lính ở Cần Thơ và 60 lính mã tà ở Long Xuyên, chuẩn bị lương thực và đạn dược 4 ngày để tấn công vào căn cứ Bảy Thưa. Ngày 19-3-1873, chúng chia thành hai cánh quân: cánh quân thứ nhất, dùng tàu chiến từ Long Xuyên dọc theo sông Hậu vào rạch Mặc Cần Dưng tấn công vào đồn Giồng Nghệ; cánh quân thứ hai, từ Châu Đốc tiến dọc sông Hậu đánh chiếm đồn Hàng Tràm, đồn Hờ. Sau vài trận chiến đấu quyết liệt với tinh thần dũng cảm, gan dạ, nghĩa quân không chống cự nổi trước hỏa lực mạnh của Pháp nên một số hy sinh, bị bắt. Các đồn chung quanh lần lượt bị Pháp chiếm.
Ngày 20-3-1873, Pháp tập trung lực lượng tấn công vào đồn Hưng Trung, đại bản doanh căn cứ Bảy Thưa, nơi có Trần Văn Thành chỉ huy. Tại Hưng Trung, Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh đối phó. Tuy bị bao vây, ông "đứng sau chiến lũy làm bằng những tấm ván và bao gạo chồng lên nhau, để đốc thúc nghĩa binh chiến đấu. Nghĩa quân trong các chiến luỹ thổi tù và, đánh trống và reo hò để tăng uy thế. Bên cạnh Trần Văn Thành còn có con trai ông hỗ trợ cho ông bắn”.
Trước hỏa lực mạnh mẽ của quân Pháp, nghĩa quân đã chống trả quyết liệt với tinh thần chiến đấu dũng cảm. Số nghĩa quân chết và bị thương khá nhiều. Đến tối ngày 20-3-1873 (nhằm 21 tháng 2 âm lịch), đồn Hưng Trung thất thủ. Sau tháng 3-1873, cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa hoàn toàn tan rã.
Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa gắn liền với gương chiến đấu hy sinh vì đất nước của Trần Văn Thành đã được nhân dân trong vùng và cả tỉnh An Giang khâm phục, tự hào. Nhân dân Châu Phú lập đền thờ tại trại ruộng Láng Linh. Riêng tại nền cũ đồn Hưng Trung cũng có đền kỷ niệm và nhân dân tôn kính ông là "Đức Cố Quản".
Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa tuy thất bại nhưng đã thể hiện tinh thần quật khởi, yêu nước của nhân dân địa phương không cam tâm chịu nhục, chịu mất tự do và truyền lại cho thế hệ sau chí khí bất khuất đấu tranh vì độc lập, tự do.



