TRẦN VĂN THỌ – NGƯỜI CHIẾN SĨ BIÊN PHÒNG “BA BÁM, BỐN CÙNG” VỚI ĐỒNG BÀO HÀ NHÌ
Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Thọ (1935–1961), quê Phú Thọ, là chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang công tác tại vùng ngã ba biên giới A Pa Chải. Thực hiện phương châm “ba bám, bốn cùng”, ông vừa vận động quần chúng, đấu tranh chống phỉ, vừa giúp đồng bào Hà Nhì định canh, làm ruộng nước, xóa đói, học chữ và xây dựng tổ chức Đảng. Kỷ vật tiêu biểu nhất của ông là chiếc áo trấn thủ nhường cho ông Pờ Pú Chừ, người dân nghèo sau này trở thành cơ sở cách mạng. Ngày 1-1-1967, Trần Văn Thọ được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Giữa vùng ngã ba biên giới A Pa Chải, nơi núi cao, rừng sâu và đường đi vô cùng hiểm trở, có một người chiến sĩ trẻ đã dành trọn tuổi xuân để bám bản, giúp dân, xây dựng cơ sở cách mạng và bảo vệ biên giới. Đó là Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Thọ, một trong những chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang đầu tiên được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trần Văn Thọ sinh năm 1935, quê xã Nỗ Lực, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, ông sớm giác ngộ cách mạng. Năm 15 tuổi, ông tham gia du kích; đến năm 1952 thì nhập ngũ. Sau này, ông công tác tại Đồn 5 Công an vũ trang nhân dân, nay là Đồn Biên phòng Leng Su Sìn.
Công việc ở vùng biên giới khi ấy vô cùng gian khổ. Không chỉ phải đối mặt với thổ phỉ, gián điệp và các lực lượng chống phá, người chiến sĩ còn phải sống giữa địa bàn xa xôi, thiếu thốn và khí hậu khắc nghiệt.
Cuối năm 1958, Trần Văn Thọ được phân công làm công tác vận động quần chúng tại xã Xính Phình, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, nay thuộc khu vực Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Đây là vùng nằm gần ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Trung Quốc. Trong những năm trước đó, địa bàn từng là nơi các toán gián điệp, đặc vụ và phỉ hoạt động.
Trần Văn Thọ hiểu rằng muốn giữ vững biên giới thì trước hết phải giữ được lòng dân.
Ông thực hiện phương châm “ba bám, bốn cùng”: bám địa bàn, bám dân, bám nhiệm vụ; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng của đồng bào.
Một câu chuyện nhỏ đã cho thấy cách ông đến với dân.
Năm 1957, khi đến gia đình ông Pờ Pú Chừ, người Hà Nhì, Trần Văn Thọ thấy gia đình quá nghèo, đông con, mùa đông lạnh buốt mà ông Chừ chỉ có duy nhất một chiếc áo mặc trên người.
Không nói nhiều, Thọ cởi chiếc áo trấn thủ của mình đưa cho ông Chừ mặc.
Đối với người chiến sĩ giữa vùng núi lạnh, chiếc áo ấy rất quý. Nhưng đối với Trần Văn Thọ, sự ấm áp và niềm tin của người dân còn quý hơn.
Từ sự gần gũi ấy, ông từng bước bồi dưỡng Pờ Pú Chừ trở thành cơ sở tin cậy và năm 1959 giới thiệu ông vào Đảng Lao động Việt Nam.
Chiếc áo trấn thủ ấy sau này trở thành một kỷ vật đặc biệt, được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Biên phòng.
Không chỉ làm dân vận, Trần Văn Thọ còn trực tiếp tham gia đấu tranh chống các toán phỉ và đặc vụ.
Nhờ sự giúp đỡ của nhân dân, ông phối hợp cùng cán bộ địa phương vận động 5 tên phỉ ra hàng. Từ những thông tin thu được, lực lượng tiếp tục bắt được 6 tên đặc vụ, thu nhiều vũ khí và tài liệu quan trọng.
Nhưng điều Trần Văn Thọ để lại sâu sắc nhất không chỉ là những chiến công an ninh.
Ông dành rất nhiều công sức để xây dựng cuộc sống mới cho đồng bào Hà Nhì.
Một lần nghỉ phép về xuôi, thay vì mua sắm cho bản thân, ông bỏ tiền mua thóc giống, lưỡi cày mang lên tặng bà con. Ông trực tiếp hướng dẫn người dân khai hoang, đắp bờ làm ruộng nước, cầm tay chỉ việc cách trồng lúa.
Mùa vụ đầu tiên, những thửa ruộng do ông hướng dẫn cho năng suất cao hơn nhiều so với lúa nương.
Người dân bắt đầu tin và làm theo.
Từ đó, đồng bào Hà Nhì dần xuống núi định cư, lập nên bản Đoàn Kết, tham gia hợp tác xã. Trần Văn Thọ cùng đồng đội giúp dân dựng nhà, làm đường dẫn nước, chia sẻ muối ăn, chăn ấm, hạt giống và dụng cụ sản xuất.
Đến năm 1961, toàn xã Xính Phình đã có 5 hợp tác xã, đều hoạt động khá. Riêng hợp tác xã Phù Bì, nơi Trần Văn Thọ trực tiếp hướng dẫn, trở thành đơn vị tiêu biểu; vụ mùa năm 1961, bình quân lương thực đạt trên một tấn mỗi người và được Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba.
Ông còn vận động đồng bào học chữ, xóa bỏ mê tín, từ bỏ thuốc phiện. Theo tư liệu được cung cấp, đến năm 1960, xã Xính Phình không còn người nghiện thuốc phiện.
Với Trần Văn Thọ, bảo vệ biên giới không chỉ là đứng gác bên đường biên.
Đó còn là giúp dân có cái ăn, cái mặc, biết chữ, biết sản xuất và tin vào chính quyền cách mạng.
Đầu tháng 8-1961, mưa lớn kéo dài khiến nước suối dâng cao. Guồng nước bị đổ, kho hợp tác xã hư hỏng. Lo cho sản xuất của bà con, Trần Văn Thọ mặc áo mưa đi sửa lại guồng nước và nhà kho.
Sau khi công việc hoàn thành, ông bị sốt rét ác tính quật ngã.
Ngày 8-8-1961, Trần Văn Thọ qua đời khi mới 26 tuổi.
Sự ra đi của ông khiến đồng bào vô cùng thương tiếc. Người dân dựng bia tưởng niệm người chiến sĩ trẻ đã sống như một người con của bản làng.
Bộ trưởng Bộ Công an truy phong vượt cấp cho ông từ Thượng sĩ lên Thiếu úy.
Ngày 1-1-1967, Trần Văn Thọ được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Cuộc đời ông chỉ kéo dài 26 năm, nhưng những gì để lại nơi biên giới lại rất sâu đậm.
Đó là chiếc áo trấn thủ nhường cho một người dân nghèo, là những thửa ruộng nước đầu tiên, những người dân được kết nạp Đảng, những bản làng định cư và một niềm tin rằng người chiến sĩ biên phòng không chỉ bảo vệ đất nước bằng súng, mà còn bằng tình thương và sự gắn bó với nhân dân.



