TRẦN VĂN THỦY - SÁU NĂM ĐỂ HIỂU GIÁ TRỊ CỦA SỰ VỮNG VÀNG
Có thể người ta không còn nhớ từng ngày của một quãng tuổi trẻ, nhưng cách quãng tuổi trẻ ấy rèn mình sẽ hiện ra trong từng lựa chọn về sau. Với tôi, điều đáng quý không phải kể mình đã từng là ai bằng những lời lớn, mà là hôm nay vẫn có thể giữ được phần ngay ngắn đã được bồi đắp từ năm tháng ấy.
Nhiều năm đã trôi qua, nhưng mỗi khi nghĩ về tuổi trẻ, tôi vẫn nhớ rõ cảm giác của ngày mình bước vào quân ngũ. Tôi - Trần Văn Thủy, sinh năm 1962 - nhập ngũ năm 1982, khi khoảng 20 tuổi, mang theo sự háo hức của một người trẻ và cả những bỡ ngỡ rất thật trước một môi trường hoàn toàn khác. Vai trò của tôi trong những năm ấy là chiến sĩ. Quãng quân ngũ của tôi kéo dài 6 năm, từ 1982 đến 1988. Điều tôi nhớ nhất không phải một khoảnh khắc duy nhất, mà là cả một quá trình: từ chỗ còn phải làm quen với nề nếp, tôi dần biết tự sắp xếp; từ chỗ chỉ nghĩ đến việc của mình, tôi dần hiểu mỗi hành động đều có liên hệ với tập thể. Khi ấy, đất nước đã bước vào một giai đoạn mới, cuộc sống còn nhiều khó khăn và mỗi người trẻ vẫn phải học cách góp phần bằng trách nhiệm của mình. Những năm tháng ấy đã cho tôi thấy tuổi trẻ không chỉ là sức lực và sự sôi nổi. Tuổi trẻ còn là lúc người ta có thể học rất nhanh, sửa mình rất thật và tạo nên những thói quen tốt để mang theo cả đời. Trong những năm quân ngũ, gia đình luôn là một miền nhớ âm thầm. Có khi chỉ một câu chuyện của đồng đội về quê nhà cũng đủ khiến trong lòng mình hiện lên những gương mặt thân quen. Nhưng nỗi nhớ ấy không tách tôi ra khỏi tập thể; trái lại, nó khiến tôi hiểu hơn những người đang ở bên cạnh. Bởi phía sau mỗi người cũng là một mái nhà, cũng có những người đang mong chờ. Khi nghĩ như vậy, tôi dễ cảm thông hơn với một lúc ai đó trầm xuống, dễ hiểu hơn vì sao có ngày người bên cạnh ít nói. Chính sự đồng cảm ấy giúp chúng tôi gần nhau hơn. Tôi cũng nhận ra rằng tình yêu với gia đình và trách nhiệm với tập thể không đối lập. Một người biết nghĩ đến gia đình càng phải biết sống sao cho có trách nhiệm ở nơi mình đang đứng. Với tôi, đó là một trong những điều sâu sắc nhất mà những năm xa nhà đã để lại.
Sự trưởng thành trong quân ngũ đến với tôi bằng những việc rất cụ thể. Tự thu xếp thời gian, giữ nề nếp, làm việc theo trình tự, biết đặt cái chung lên trước một chút tiện lợi của bản thân - mỗi điều đều nhỏ nhưng cộng lại tạo thành một thay đổi lớn. Tôi không còn chờ cảm giác thích thú mới bắt tay vào việc. Có những điều cần làm chỉ vì đó là trách nhiệm. Tôi cũng dần biết rằng một thiếu sót không phải điều đáng sợ nhất; điều đáng ngại là thấy thiếu sót mà không chịu sửa. Vì vậy, những lần chưa tốt trở thành cơ hội để tự nhìn lại. Từ đó tôi có một điểm tựa quan trọng: thay vì tìm xem ai phải chịu trách nhiệm, trước hết nhìn lại phần của mình. Thói quen ấy khiến tôi bình tĩnh hơn và cũng giúp tôi biết tôn trọng công sức của những người đang làm việc cùng mình. Là một Chiến sĩ, tôi hiểu rõ giá trị của những con người bình thường trong một tập thể. Không phải ai cũng giữ một chức vụ hay đứng ở vị trí dễ được nhắc đến, nhưng hàng ngũ chỉ có thể vững khi từng người biết giữ phần của mình. Điều ấy khiến tôi không xem nhẹ những việc hằng ngày. Có công việc chẳng ai khen, có trách nhiệm không ai phải nhắc tên, nhưng đã thuộc về mình thì phải làm bằng sự nghiêm túc. Tôi dần hiểu rằng một người đáng tin không nhất thiết phải làm điều gì thật lớn. Nhiều khi chỉ cần qua thời gian, mọi người thấy việc giao cho mình không bị bỏ dở, lời nói của mình có thể tin và khi mắc thiếu sót mình biết nhận để sửa, như thế đã là điều quý. Là chiến sĩ cũng dạy tôi biết đặt cái tôi xuống thấp hơn một chút. Trong tập thể, sự thuận tiện của một người không thể luôn đứng trên nhịp chung. Có lúc phải nhường, có lúc phải cố thêm, có khi phải im lặng nghe trước khi nói. Chính những điều bình thường ấy làm tôi hiểu sâu hơn rằng trách nhiệm không phải danh xưng, mà là cách mình thực hiện phần việc của mình mỗi ngày.
Tình đồng đội là phần ký ức mà càng về sau tôi càng thấy quý. Những người trước ngày nhập ngũ có thể chưa từng biết nhau, mỗi người một gia đình, một quê hương, một nếp sống, rồi gặp nhau trong cùng một hàng ngũ. Sự thân thiết không đến trong một ngày. Nó được tạo nên từ những việc rất nhỏ: một câu hỏi thăm, một lần biết nhường nhau, một lúc người này thấy người kia chùng lòng và biết động viên. Xa gia đình, những cử chỉ giản dị ấy có sức ấm đặc biệt. Tôi học được rằng không phải ai cũng thể hiện tình cảm giống nhau. Có người nói nhiều, có người ít lời; có người dễ bộc lộ nỗi nhớ, có người lặng lẽ giữ trong lòng. Sống lâu bên nhau, mình dần hiểu cách tôn trọng sự khác biệt ấy. Tôi bớt vội đánh giá người khác từ một khoảnh khắc và biết lắng nghe trước khi phản ứng. Có chuyện nếu ai cũng giữ phần hơn thua thì sẽ trở nên nặng nề, nhưng chỉ cần một người chịu dịu lại, mọi việc có thể khác. Đồng đội dạy tôi không chỉ cách cùng làm việc mà còn cách sống có tình, biết nhìn người bên cạnh bằng sự cảm thông và biết rằng mình vững hơn nhiều khi có những người cùng bước. Một chặng quân ngũ, dù ngắn hay dài, đều có những ngày không hề đặc biệt. Nhưng chính những ngày ấy lại tạo ra sức bền. Tôi học cách không đòi hỏi mọi việc lúc nào cũng phải thuận lợi mới cố gắng. Nếu chỉ làm tốt khi tinh thần hứng khởi, mình sẽ dễ bỏ dở lúc khó khăn. Trách nhiệm đòi hỏi một sự đều đặn khác: hôm nay làm phần hôm nay, ngày mai tiếp tục phần ngày mai. Tôi dần bớt sốt ruột với kết quả và hiểu rằng những thay đổi tốt thường đến chậm. Từ việc rèn một thói quen đến việc xây sự tin cậy với người khác, tất cả đều cần thời gian. Chính vì thế, tôi quý sự kiên trì hơn những lời hứa mạnh mẽ. Một người có thể nói rằng mình sẽ cố gắng, nhưng điều quan trọng là sau nhiều tháng, nhiều năm, họ vẫn còn giữ được sự nghiêm túc ấy. Tôi xem đó là một trong những phẩm chất quý nhất mà quân ngũ đã giúp mình bồi đắp.
Từ năm 1982 đến 1988, thời gian cứ thế đi qua và tôi cũng dần nhận ra mình không còn giống người của ngày đầu nhập ngũ. Khi rời quân ngũ, tôi khoảng 26 tuổi. 6 năm có thể được ghi gọn bằng vài con số, nhưng đối với một đời người, đó là một phần đủ dài để nhiều thói quen trở thành tính cách và nhiều bài học trở thành nguyên tắc sống. Tôi hiểu hơn giá trị của thời gian, biết rằng một lời nói nên được cân nhắc, một việc đã nhận nên được theo đến cùng và một mối quan hệ muốn bền phải có sự tôn trọng. Ngày trở về không xóa đi những gì đã được rèn; ngược lại, chính đời sống bình thường mới là nơi những bài học ấy tiếp tục được thử thách. Không còn môi trường cũ, mình càng phải tự nhắc; không còn đồng đội bên cạnh mỗi ngày, mình càng hiểu tình nghĩa là điều phải biết gìn giữ. Càng lớn tuổi, tôi càng thấy điều quý nhất của tuổi trẻ không phải là đã đi qua bao nhiêu nơi hay có bao nhiêu điều để kể, mà là trong những năm ấy mình đã học được cách sống nào. Một quãng đời có thể lùi xa, nhưng nếu nó để lại sự điềm tĩnh trước khó khăn, sự nghiêm túc trong công việc và lòng biết ơn với những người từng đồng hành, thì quãng đời ấy vẫn còn tiếp tục tác động đến hiện tại. Tôi thường nghĩ về tuổi trẻ bằng sự biết ơn như vậy. Không cần tô đậm những điều đã qua, chỉ cần nhớ đúng cảm xúc của mình: đã từng bỡ ngỡ, đã từng nhớ nhà, đã từng mệt, nhưng cũng đã từng tự đứng dậy, tự sửa một thiếu sót và cùng người khác đi hết phần đường của mình. Chính những điều ấy làm ký ức trở nên thật và gần gũi.
Thời gian cũng giúp tôi hiểu rằng những phẩm chất được rèn trong một giai đoạn chỉ thật sự có giá trị nếu được giữ khi hoàn cảnh đã thay đổi. Dễ sống có kỷ luật khi mọi thứ chung quanh đều theo nề nếp; khó hơn là sau này vẫn tự giữ được sự ngay ngắn trong một môi trường khác. Dễ cảm thấy gắn bó khi đồng đội ở cạnh mỗi ngày; khó hơn là nhiều năm sau vẫn nhớ cách sống nghĩa tình đã học được. Tôi vì thế coi quãng quân ngũ như một lời nhắc dài lâu. Mỗi khi đứng trước một việc phải lựa chọn giữa thuận tiện và trách nhiệm, tôi lại nhớ rằng sự tin cậy của một con người được tạo nên từ chính những lựa chọn nhỏ như thế. Rời hàng ngũ, tôi trở về với những công việc và mối quan hệ của đời sống thường ngày. Môi trường thay đổi, nhưng tôi hiểu có những giá trị không nên thay đổi theo sự thuận tiện. Đã nhận một việc thì phải cố làm cho trọn; đã nói một điều thì phải có ý thức giữ; sống với người khác thì phải biết tôn trọng; gặp khó khăn thì đừng để một phút nản lòng quyết định cả con đường. Những nguyên tắc giản dị ấy chính là thứ tôi mang theo từ quân ngũ. Tôi càng sống lâu càng thấy chúng không bao giờ cũ. Có thể người ta không còn nhớ từng ngày của một quãng tuổi trẻ, nhưng cách quãng tuổi trẻ ấy rèn mình sẽ hiện ra trong từng lựa chọn về sau. Với tôi, điều đáng quý không phải kể mình đã từng là ai bằng những lời lớn, mà là hôm nay vẫn có thể giữ được phần ngay ngắn đã được bồi đắp từ năm tháng ấy.



