Cựu chiến binh

Trần Văn Trà

Ông tên thật là Nguyễn Chấn, xuất thân trong một gia đình làm nghề nông. Ông quê tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh (nay thuộc xã Tịnh Khê), tỉnh Quảng Ngãi, sau vào cư ngụ tại Sài Gòn. Thời trẻ, ông học tiểu học tại Quảng Ngãi. Năm 1936, ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ Huế khi còn đang học tại Trường Kỹ nghệ thực hành Huế. Năm 1938 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Khi hoạt động cách mạng, ông còn có các bí danh là Tư Chi, Tư Nguyễn, Ba Trà. Ông từng bị thực dân Pháp bắt giam hai lần.

Vĩnh Long20/05/2026Đoàn xã Phong Thạnh (Đoàn xã Phong Thạnh)8 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Ủy viên Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ. Khi chiến tranh Đông Dương nổ ra tại Nam Bộ, ông tham gia công tác quân sự, giữ chức Chi đội trưởng Chi đội (tương đương trung đoàn) 14, Khu trưởng Khu 8, xứ ủy viên Nam Bộ (1946-1948); Tư lệnh kiêm Chính ủy Khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Tư lệnh Khu 7 (1949-1950);Do nhu cầu cán bộ rất lớn, lãnh đạo Khu chỉ thị cho Trường mở liên tục hai khóa học Khoá rèn luyện I, rèn luyện II (10/1950 - 1952). Lúc này Trường đóng quân tại vườn điều (Dốc Sỏi, An Thành, Bến Cát - Thủ Dầu Một). Mỗi khoá huấn luyện 100 học viên do ông làm Hiệu trưởng; Phó Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân khu Miền Đông Nam Bộ (1951-1954).

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc sau 3 năm ông kết thúc nhiệm kỳ chức vụ hiệu trưởng Trường Quân chính Khu 7 , giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1955-1962), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn (1958), Giám đốc Học viện quân chính và Chánh án Tòa án quân sự Trung ương (1961).

Từ năm 1963, ông được cử vào Nam làm Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam (1963-1967 và 1973-1975), Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1968-1972), Phó Bí thư Quân ủy Quân Giải phóng miền Nam.

Sau Hiệp định Paris 1973, ông làm Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Ban Liên hiệp đình chiến bốn bên ở Sài Gòn.

Buổi chiều 3 tháng 5 năm 1975, ông giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định để kế nhiệm cho Lê Đức Anh, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7.

20 tháng 1 năm 1976, ông kết thúc nhiệm kỳ Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định trước 7 tháng Cộng hòa miền Nam Việt Nam thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau lễ bàn giao Uỷ ban nhân dân Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh

Từ năm 1978 đến năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Từ năm 1992 ông là Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (dự khuyết khóa III, chính thức khóa IV).

Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1959,[3] Thượng tướng năm 1974.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn