Trần Văn Trà và Chiến dịch Junction City 1967: Khi Bộ Chỉ huy Miền đối phó cuộc hành quân lớn nhất của quân Mỹ
Từ ngày 22-2 đến 15-4-1967, quân Mỹ mở Junction City tại Bắc Tây Ninh, huy động một lực lượng rất lớn nhằm phá căn cứ Dương Minh Châu, tìm diệt cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực của ta. Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền tổ chức một chiến dịch phản công kéo dài 53 ngày, kết hợp lực lượng tại chỗ với các đơn vị chủ lực để giữ thế chủ động trên chiến trường.
1. Mục tiêu của một cuộc hành quân khổng lồ
Đầu năm 1967, chiến trường miền Đông Nam Bộ trở thành hướng trọng điểm trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ.
Sau Attleboro cuối năm 1966 và Cedar Falls đầu năm 1967, Bộ chỉ huy Mỹ tiếp tục tập trung lực lượng vào Bắc Tây Ninh, nơi có căn cứ Dương Minh Châu và hệ thống cơ quan của cách mạng miền Nam. Phía Mỹ đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm cơ quan đầu não kháng chiến và lực lượng chủ lực của ta, trong đó có Sư đoàn 9.
Ngày 22-2-1967, Junction City bắt đầu.
Theo lịch sử quân sự Mỹ, đây là cuộc hành quân lớn nhất của lực lượng đồng minh tại Việt Nam tính đến thời điểm đó, với sự tham gia của các đơn vị thuộc Sư đoàn 1, Sư đoàn 25, Lữ đoàn dù 173 và các đơn vị thiết giáp, pháo binh khác. Kế hoạch của Mỹ là bao vây khu vực Chiến khu C rồi tiến hành các cuộc hành quân “tìm diệt”.
Ở phía bên kia, Trần Văn Trà khi đó vẫn giữ cương vị Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền.
Nhưng ông không trực tiếp chỉ huy từng trận đánh.
Nhiệm vụ của Trần Văn Trà cùng Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền là tổ chức thế trận chung để đối phó với một lực lượng Mỹ vượt trội về quân số, pháo binh, không quân và khả năng cơ động.
2. Không đối đầu với cả cuộc hành quân cùng một lúc
Điểm quan trọng trong cách tổ chức chiến dịch của Bộ Chỉ huy Miền là không tìm cách đưa toàn bộ lực lượng chủ lực ra đối đầu trực diện với toàn bộ đội hình Mỹ.
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn 9, Trung đoàn 16, Tiểu đoàn 58 cối 120mm, các tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm, các đơn vị bảo vệ cơ quan, bộ đội địa phương và khoảng 4.000 du kích. Bộ Tư lệnh chiến dịch do Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Trần Độ làm Chính ủy và Hoàng Cầm làm Tham mưu trưởng.
Chủ trương được xác định là:
lực lượng tại chỗ bám trụ, đánh nhỏ và rộng khắp; chủ lực cơ động đánh những trận vừa và lớn khi có thời cơ.
Đây là điểm đặc biệt của chiến dịch.
Mỹ có ưu thế về lực lượng cơ động và hỏa lực. Nếu chủ lực ta bị cuốn vào một trận đối đầu cố định, đối phương có thể sử dụng pháo binh, trực thăng và máy bay để tăng cường sức mạnh.
Vì vậy, chiến trường được tổ chức thành nhiều lớp.
Du kích và bộ đội địa phương đánh giao thông, phục kích, tập kích các đơn vị nhỏ.
Các cơ quan và lực lượng bảo vệ căn cứ tiếp tục bám địa bàn.
Còn Sư đoàn 9 và Trung đoàn 16 được sử dụng vào những trận đánh lớn hơn, đánh vào bên sườn, phía sau và những nơi đội hình Mỹ sơ hở.
3. Ngày 22-2 – Mỹ tiến vào Dương Minh Châu
Sáng 22-2, quân Mỹ bắt đầu đổ quân vào khu vực Bắc Tây Ninh.
Theo tài liệu của Lục quân Mỹ, lực lượng Mỹ sử dụng trực thăng đổ bộ nhiều tiểu đoàn vào các hướng quanh Chiến khu C; đồng thời, một đơn vị dù thực hiện cuộc đổ quân bằng nhảy dù quy mô lớn. Đây là cuộc đổ quân dù chiến đấu quy mô lớn đầu tiên của Mỹ kể từ Chiến tranh Triều Tiên.
Trước một cuộc tiến công như vậy, điều quan trọng đối với Bộ Chỉ huy Miền không phải là giữ từng vị trí bằng mọi giá.
Mà là giữ được lực lượng, bảo vệ cơ quan và căn cứ, đồng thời làm cho đội hình tiến công của đối phương liên tục bị đánh từ nhiều phía.
Ngay từ những ngày đầu, lực lượng tại chỗ đã bám đánh ở Sê Lô, Rùm Đuôn, Ang Khắc, Sóc Ki... Trong khi đó, lực lượng cơ động đánh vào sườn và phía sau đội hình Mỹ tại Trảng A Lân, suối Ông Hùng.
Mỹ tiến vào căn cứ.
Nhưng càng tiến sâu, đội hình càng phải kéo dài.
Các đơn vị phía trước phải bảo đảm giao thông.
Các đơn vị phía sau phải bảo vệ căn cứ và hậu cần.
Và ở giữa những khoảng trống đó, lực lượng chủ lực và địa phương tìm cách đánh vào những bộ phận riêng lẻ.
4. Từ phòng ngự sang phản công
Sau những ngày đầu, thế trận bắt đầu thay đổi.
Từ ngày 1-3, quân Mỹ phải dừng lại và tổ chức các chốt dọc đường 22 và đường 4. Trong khi đó, lực lượng Quân giải phóng tiếp tục tập kích tại Trảng Chiên, Cà Tum, Ang Khắc, Rùm Đuôn, Tà Xia, Bàu Cỏ và Đồng Pan.
Đến giữa tháng 3, quân Mỹ bắt đầu rút khỏi một số khu vực như Kà Tum và Bổ Túc.
Đợt một kết thúc.
Nhưng Junction City chưa chấm dứt.
Ngày 16-3, Mỹ chuyển hướng tiến công sang Đông Bắc và Tây Nam.
Đây là lúc Bộ Chỉ huy Miền tiếp tục phát huy cách đánh đã được hình thành từ đợt đầu: không để đối phương tự do rút lui, mà tiếp tục bám đánh trên các tuyến cơ động.
Các trận Đồng Rùm, Bàu Tri Giết, Trảng Ba Vũng và Sóc Con Trăng lần lượt diễn ra.
Trung đoàn 16 và Trung đoàn 1 còn vượt sông Sài Gòn, phối hợp chặn đánh ở Cẩm Lê, Bình Phú, trong khi các lực lượng khác tiếp tục hoạt động trên đường 4, đường 22, Lộ Trắng, Trại Bỉ và suối Ông Hùng.
Điều đó khiến một cuộc hành quân ban đầu được thiết kế như một chiến dịch “tìm diệt” trở thành một chuỗi những trận đánh mà quân Mỹ phải liên tục đối phó.
5. Bảo vệ căn cứ bằng cách buộc đối phương phải chiến đấu
Một trong những điểm đáng chú ý của Junction City là căn cứ không được bảo vệ chỉ bằng cách giữ chặt căn cứ.
Lực lượng tại chỗ tổ chức đánh nhỏ, đánh giao thông, phá phương tiện cơ giới, chống trực thăng.
Lực lượng chủ lực tìm những thời cơ để đánh các đơn vị Mỹ với quy mô lớn hơn.
Hai hình thức đó hỗ trợ cho nhau.
Khi quân Mỹ tập trung đối phó với một hướng, những hướng khác có thể bị đánh.
Khi quân Mỹ tiến sâu, lực lượng tại chỗ đánh phía sau.
Khi quân Mỹ rút, chủ lực tiếp tục bám đánh.
QĐND đánh giá nét đặc sắc của chiến dịch là việc tổ chức thế trận kết hợp giữa lực lượng tại chỗ và chủ lực trong một khu vực mà dân cư rất thưa thớt. Cơ quan, đơn vị cũng được tổ chức thành lực lượng tự vệ, phối hợp với du kích và bộ đội địa phương.
Đó là một cách giải quyết bài toán rất cụ thể của Bắc Tây Ninh năm 1967.
Không có điều kiện dựa chủ yếu vào một hệ thống làng xã đông dân để che chở lực lượng.
Vì vậy, chính các cơ quan, đơn vị và lực lượng vũ trang tại căn cứ phải tạo thành một mạng lưới chiến đấu.
6. Ngày 15-4 – Junction City kết thúc
Từ ngày 4 đến 15-4, các đơn vị Mỹ lần lượt rút khỏi khu vực.
Ngày 15-4-1967, cuộc hành quân Junction City kết thúc.
Theo tài liệu của QĐND, chiến dịch phản công của ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 14.000 quân đối phương, phá hủy hoặc làm hỏng nhiều xe tăng, xe thiết giáp và pháo binh, đồng thời bắn rơi hoặc bắn hỏng nhiều máy bay.
Các con số thương vong trong chiến tranh thường có sự khác biệt đáng kể giữa các nguồn và cách tính. Vì vậy, điều có thể khẳng định chắc chắn hơn là: Junction City không đạt được các mục tiêu chính mà phía Mỹ đề ra, trong khi căn cứ Dương Minh Châu và các cơ quan quan trọng của cách mạng miền Nam vẫn được bảo vệ.
Lục quân Mỹ cũng ghi nhận Junction City là một chiến dịch rất lớn, với hơn 22 tiểu đoàn Mỹ cùng lực lượng Việt Nam Cộng hòa tham gia. Sau khi kết thúc, lực lượng Mỹ xây dựng một số sân bay và căn cứ trong khu vực trước khi rút quân.
7. Trần Văn Trà và một trận đánh không chỉ có trên bản đồ
Trong Junction City, Trần Văn Trà không phải là người đứng ở một trận địa để chỉ huy từng đơn vị.
Vai trò của ông nằm ở cấp cao hơn: Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền, cùng Quân ủy Miền tổ chức thế trận và chỉ đạo chiến dịch phản công.
Bộ Tư lệnh chiến dịch trực tiếp điều hành các đơn vị chiến đấu là Lê Trọng Tấn, Trần Độ và Hoàng Cầm.
Sự phân biệt này rất quan trọng.
Bởi Junction City là một chiến dịch kéo dài 53 ngày, diễn ra trên một địa bàn rộng, với hàng loạt trận đánh ở nhiều cấp độ.
Một người chỉ huy chiến trường không thể trực tiếp điều khiển từng trận.
Công việc của Trần Văn Trà là ở việc tổ chức thế trận, phân bổ lực lượng, bảo vệ cơ quan và căn cứ, sử dụng chủ lực đúng thời cơ và duy trì khả năng phản công trong suốt cuộc hành quân của đối phương.
Junction City vì thế phản ánh không chỉ sức chiến đấu của một vài trung đoàn, mà còn cho thấy cách Bộ Chỉ huy Miền tổ chức toàn bộ chiến trường trước một cuộc hành quân có quy mô rất lớn.
Lời kết
Ngày 22-2-1967, quân Mỹ tiến vào Bắc Tây Ninh với một lực lượng lớn, với mục tiêu tìm diệt cơ quan đầu não và chủ lực của cách mạng miền Nam.
Ngày 15-4, họ rút khỏi khu vực mà những mục tiêu ấy chưa đạt được.
Giữa hai ngày đó là 53 ngày chiến đấu, trong đó Bộ Chỉ huy Miền không lựa chọn cách đối đầu trực diện với toàn bộ lực lượng Mỹ. Thay vào đó, lực lượng tại chỗ bám đánh, chủ lực cơ động, đánh vào sườn và phía sau, liên tục làm thay đổi hướng tác chiến.
Với Trần Văn Trà, Junction City là một trong những thử thách lớn nhất của cương vị Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền trước năm 1968.
Nếu Bàu Bàng là một trong những trận đầu để tìm cách đánh quân Mỹ, thì Junction City cho thấy cách đánh ấy đã được đưa lên quy mô một chiến dịch phản công kéo dài nhiều tuần.
Và ở Bắc Tây Ninh năm 1967, cuộc đối đầu không chỉ diễn ra giữa những đơn vị bộ binh.
Đó còn là cuộc đấu giữa một cuộc hành quân tìm diệt quy mô lớn và một thế trận đã được chuẩn bị để không cho đối phương tìm thấy thứ họ muốn tìm.



