Trần Văn Trà và Tiểu đoàn 307 – Từ Đồng Tháp Mười đến những trận đánh vang danh Nam Bộ
Ngày 1/5/1948, Tiểu đoàn 307 được thành lập tại Giồng Luông, Bến Tre, từ lực lượng Khu 8 và một bộ phận quan trọng của Trung đoàn 99. Dưới sự chỉ đạo của Trần Văn Trà, đơn vị được xây dựng thành một lực lượng chủ lực cơ động, xuất phát từ Đồng Tháp Mười rồi liên tục chiến đấu trên nhiều chiến trường Nam Bộ. Mộc Hóa, La Bang, Cầu Kè và hàng trăm trận đánh sau đó đã làm tên tuổi Tiểu đoàn 307 trở thành một biểu tượng của lực lượng vũ trang Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp.
1. Một tiểu đoàn ra đời từ yêu cầu của chiến trường
Năm 1947, chiến tranh du kích ở Nam Bộ phát triển rộng. Nhưng bên cạnh các đội du kích và bộ đội địa phương, Khu 8 cần một lực lượng cơ động có thể nhanh chóng xuất hiện ở những địa bàn quan trọng, thực hiện những trận đánh quy mô lớn hơn rồi rút về căn cứ.
Khi ấy, Trần Văn Trà là Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, Khu trưởng Khu 8.
Từ căn cứ Đồng Tháp Mười, ông cùng cán bộ Khu 8 tổ chức xây dựng một đơn vị chủ lực cơ động.
Ngày 1/5/1948, Tiểu đoàn liên quân lưu động được thành lập tại Giồng Luông, Bến Tre. Đơn vị gồm lực lượng của Khu 8 và một bộ phận quan trọng của Trung đoàn 99 Bến Tre, quân số lúc đầu khoảng 1.200 người.
Đỗ Huy Rừa, Trung đoàn phó Trung đoàn 99, được giao làm Tiểu đoàn trưởng; Nguyễn Văn Sỹ làm Tiểu đoàn phó và Hồng Long làm Chính trị viên.
Sau này, đơn vị mang phiên hiệu Tiểu đoàn 307.
Tên gọi ấy rồi sẽ trở nên quen thuộc trên khắp chiến trường Nam Bộ.
2. Từ Giồng Luông trở về Đồng Tháp Mười
Sau hai tháng tập trung huấn luyện tại Bến Tre, ngày 5/7/1948, Tiểu đoàn 307 làm lễ xuất quân tại Giồng Luông. Đây là ngày truyền thống của đơn vị.
Đích đến đầu tiên là chiến trường Đồng Tháp Mười.
Tiểu đoàn vượt sông Tiền, tiến về Mỹ Tho rồi phối hợp với Trung đoàn 120 và lực lượng địa phương chuẩn bị trận đánh Mộc Hóa.
Đây không chỉ là một trận đánh để kiểm tra khả năng của đơn vị mới thành lập.
Mộc Hóa còn nằm trên một địa bàn đặc biệt quan trọng của Khu 8. Nếu giữ được khu vực này, lực lượng kháng chiến có thể bảo vệ căn cứ Đồng Tháp Mười và tạo hành lang liên kết giữa các chiến trường.
Trận đánh vì thế được chuẩn bị theo cách kết hợp công đồn với đả viện.
Một bộ phận đánh vào đồn Mộc Hóa.
Một bộ phận khác bố trí trận địa đón lực lượng đối phương tới cứu viện.
Đó là cách đánh đòi hỏi đơn vị chủ lực phải phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và du kích.
3. Mộc Hóa – trận xuất quân đầu tiên
Từ ngày 16 đến 18/8/1948, Tiểu đoàn 307 cùng Trung đoàn 120 và lực lượng du kích địa phương tiến công đồn Mộc Hóa.
Một bộ phận của Tiểu đoàn 307 vây đồn.
Bộ phận khác tổ chức trận địa “đả viện”.
Lực lượng Pháp từ Campuchia theo hướng Kompongro tiến về Mộc Hóa để giải vây. Các đơn vị của ta chặn đánh lực lượng này, thu vũ khí và phương tiện.
Sau ba ngày chiến đấu, đồn Mộc Hóa bị đánh chiếm, lực lượng đối phương bị thiệt hại và một số bị bắt làm tù binh.
Chiến thắng Mộc Hóa có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một đồn binh.
Theo các tài liệu lịch sử, trận đánh góp phần giữ vững căn cứ Đồng Tháp Mười, mở thông hành lang giữa Khu 8 với các chiến trường lân cận và tạo liên kết với chiến trường Campuchia.
Đối với Tiểu đoàn 307, đó là trận xuất quân đầu tiên.
Một đơn vị vừa thành lập đã bước ngay vào một trận đánh phối hợp tương đối lớn.
4. La Bang – cái tên đi vào bài hát
Cuối năm 1948, Tiểu đoàn 307 tiếp tục rời Đồng Tháp Mười về hướng Trà Vinh.
Ngày 16/12/1948, Tiểu đoàn 307 phối hợp với Tiểu đoàn 331 bộ đội tỉnh Trà Vinh tiến công đồn La Bang. Đồn bị tiêu diệt, tạo điều kiện để lực lượng cách mạng mở rộng cơ sở trong vùng đồng bào Khmer.
Nếu Mộc Hóa cho thấy khả năng đánh công đồn – đả viện, thì La Bang cho thấy một đặc điểm khác của Tiểu đoàn 307: khả năng cơ động đến những địa bàn xa căn cứ và phối hợp với lực lượng địa phương.
Sau hai trận Mộc Hóa và La Bang, cái tên 307 bắt đầu được nhắc đến rộng rãi ở Nam Bộ.
Đến cuối năm 1949, một bài thơ mang tên “Tiểu đoàn 307” của nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu ra đời. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, biến bài thơ thành ca khúc nổi tiếng.
Bài hát về sau được phổ biến rộng rãi trong bộ đội và nhân dân. Đến ngày 1/10/1950, ca khúc lần đầu được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam.
Từ đó, tên Tiểu đoàn 307 không chỉ xuất hiện trong các báo cáo chiến trường.
Nó còn đi vào đời sống văn hóa của kháng chiến.
5. Từ một tiểu đoàn thành lực lượng cơ động khắp Nam Bộ
Sau Mộc Hóa và La Bang, Tiểu đoàn 307 không đóng cố định ở một địa bàn.
Đơn vị liên tục cơ động qua nhiều tỉnh Nam Bộ: Long An, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Kiên Giang, Bạc Liêu...
Nhiệm vụ cũng thay đổi theo từng chiến trường.
Có khi tiểu đoàn tiến công đồn bốt.
Có khi đánh lực lượng cơ động của đối phương.
Có khi phối hợp với bộ đội địa phương mở chiến dịch.
Có khi trở lại Đồng Tháp Mười bảo vệ căn cứ và cơ quan lãnh đạo.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận đến năm 1954, Tiểu đoàn 307 đã tham gia hơn 100 trận đánh lớn nhỏ. Một nguồn khác của Báo Quân đội nhân dân thống kê con số hơn 110 trận.
Dù cách thống kê khác nhau, điểm chung là đơn vị đã chiến đấu trên một địa bàn rất rộng trong suốt những năm kháng chiến.
6. Cầu Kè – khi Tiểu đoàn 307 đánh một trận lớn ở miền Tây
Cuối năm 1949, Tiểu đoàn 307 tham gia Chiến dịch Cầu Kè ở khu vực Trà Vinh – Vĩnh Long.
Một trong những trận đánh đáng chú ý diễn ra tại Phong Phú.
Tại đây, Tiểu đoàn 307 chiến đấu với một tiểu đoàn bộ binh Ma-rốc trong đội hình quân Pháp. Trận đánh góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Cầu Kè.
Cầu Kè cho thấy Tiểu đoàn 307 lúc này đã vượt qua giai đoạn của một đơn vị mới thành lập.
Đơn vị có khả năng nhận nhiệm vụ trên một chiến trường rộng, phối hợp với các lực lượng khác và tham gia những chiến dịch quy mô lớn hơn.
Đồng thời, việc cơ động liên tục cũng tạo nên một đặc điểm riêng của 307.
Tiểu đoàn không gắn với một địa phương duy nhất.
Địa bàn hoạt động chính là cả chiến trường Nam Bộ.
7. Trần Văn Trà và bài toán xây dựng một lực lượng chủ lực
Vai trò của Trần Văn Trà đối với Tiểu đoàn 307 cần được nhìn ở cấp độ tổ chức và chỉ huy của Khu 8.
Ông không phải người trực tiếp chỉ huy từng trận đánh của tiểu đoàn.
Những trận Mộc Hóa, La Bang hay Cầu Kè đều có các cấp chỉ huy trực tiếp riêng.
Nhưng việc hình thành một đơn vị chủ lực cơ động như 307 là một quyết định quan trọng trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang Khu 8.
Đồng Tháp Mười cung cấp căn cứ.
Các địa phương cung cấp người và vật chất.
Bộ đội chủ lực tạo khả năng cơ động và tập trung lực lượng khi cần.
Du kích giữ địa bàn và hỗ trợ chủ lực.
Các yếu tố ấy tạo thành một thế trận mà một đơn vị như Tiểu đoàn 307 có thể tồn tại và chiến đấu lâu dài.
Vì vậy, câu chuyện về 307 cũng là câu chuyện về cách Khu 8 chuyển từ những đơn vị vũ trang phân tán sang xây dựng lực lượng chủ lực cơ động.
8. Từ Nam Bộ đến những ngày cuối cuộc kháng chiến
Từ năm 1952, Tiểu đoàn 307 được điều sang hoạt động ở chiến trường Phân Liên khu miền Tây.
Tại đây, đơn vị tiếp tục đánh nhiều trận, trong đó có các trận Bảy Ngàn ở Châu Thành, Cần Thơ; Hộ Phòng ở Giá Rai; Đầu Dừa ở Cà Mau.
Đến năm 1954, khi chiến cuộc chống Pháp bước vào giai đoạn quyết định, Tiểu đoàn 307 vẫn tiếp tục chiến đấu ở Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève, đơn vị hành quân về tiếp quản thị xã Cà Mau và thị trấn Tắc Vân trước khi tập kết ra miền Bắc. Tại miền Bắc, Tiểu đoàn 307 được tổ chức lại thành Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 3, Sư đoàn 330.
Như vậy, hành trình của 307 từ năm 1948 đến 1954 đi qua hai giai đoạn rõ rệt:
Ra đời ở Giồng Luông – chiến đấu ở Nam Bộ – tập kết ra miền Bắc.
Lời kết
Tiểu đoàn 307 ra đời trong một hoàn cảnh mà Khu 8 cần một lực lượng chủ lực cơ động để phá thế bị động trên chiến trường.
Từ Giồng Luông, đơn vị trở về Đồng Tháp Mười.
Từ Đồng Tháp Mười, những trận Mộc Hóa, La Bang rồi Cầu Kè đưa cái tên 307 đi xa hơn.
Đến năm 1954, đơn vị đã tham gia hơn một trăm trận đánh trên nhiều địa bàn Nam Bộ.
Phía sau những chiến công ấy là một hệ thống căn cứ, hậu cần và nhân dân đã nuôi dưỡng đơn vị suốt những năm chiến đấu.
Và phía sau cái tên Tiểu đoàn 307 còn có một dấu ấn khác: cách một lực lượng chủ lực được xây dựng từ chiến khu, trưởng thành qua chiến đấu và trở thành lực lượng cơ động của cả một chiến trường.
Trần Văn Trà là người có vai trò quan trọng trong quá trình ấy.
Còn Tiểu đoàn 307, từ một đơn vị mới thành lập ở Giồng Luông, đã trở thành một trong những đơn vị chủ lực nổi tiếng nhất của Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp.
Tên tiểu đoàn rồi đi vào một bài hát.
Nhưng trước khi trở thành một giai điệu quen thuộc, 307 đã là tên của những con người thực sự đã hành quân qua những vùng sông nước Nam Bộ và chiến đấu trong hơn một trăm trận đánh.



