Trần Văn Trung
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Trung
Anh hùng Trần Văn Trung (còn có tên là Nguyễn Văn Trung, Phạm Văn Thành, Phạm Xuân Ẩn) dân tộc Kinh, quê ở thị xã Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, sinh năm 1927 tại Nhà thương điên Biên Hòa (nay là Bệnh viện Tâm thần Trung ương II). Khi được tuyên dương Anh
hùng, anh là đảng viên, trung tá, cán bộ tình báo thuộc Bộ Tham mưu Miền.
Trần Văn Trung[1] nhập ngũ tháng 10/1945, ở Rạch Giá, tái ngũ đầu năm 1952. Kể từ năm 1952-1975, suốt 23 năm đồng chí chiến đấu trong mặt trận thầm lặng giữa hang ổ kẻ địch, nhiều gian nan hiểm nguy, đã chiến thắng trong mọi tình huống, góp công lớn lao trên mặt trận tình báo trong sự nghiệp kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Trong vỏ bọc ký giả, Phạm Xuân Ẩn đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản của địch có giá trị lớn cho cách mạng, lập nhiều thành tích xuất sắc. Để có ngày chiến thắng, bên những chiến công vẻ vang của đồng đội cầm súng chiến đấu, còn có biết bao chiến công thầm lặng của những người con ưu tú như Trần Văn Trung - những cán bộ tình báo. Đồng chí luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Sống và làm việc với địch, Trần Văn Trung vẫn luôn luôn giữ vững lòng trung thành với Đảng, kiên định tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tin tưởng vào tương lai ngày mai của đất nước.
Với thành tích ấy, Trần Văn Trung được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công giải phóng (1 hạng Nhất, 2 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; 6 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua; Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng; được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 15/1/1976.
Trần Văn Trung với tên là Phạm Xuân Ẩn được xem là người anh hùng huyền thoại trên mặt trận không có tiếng súng. Các ký giả nổi tiếng của hãng thông tấn Reuters và các tờ báo tên tuổi như tuần báo Times, nhật báo New York Herald Tribune, nhật báo The Chritian Science Monitor đều nhìn nhận như vậy. Các nhà đầu tư Pháp, Mỹ, Đài Loan, Nhật, Hàn tỏ ra “mê tín” vị cựu ký giả Phạm Xuân Ẩn vốn có sở trường đưa ra những dự đoán chính xác về thời thế của chế độ Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975 người ta mới thực sự biết được ký giả lỗi lạc Phạm Xuân Ẩn chính là nhà tình báo chiến lược “Cộng sản nằm vùng”. Những CIA “gộc” như Frank Snepp và các chính khách, học giả nổi tiếng như: Edward G.Landel, William Colby, Zalin Grant... đều có mối quan hệ thân tình hoặc có nhiều trang viết trân trọng đối với ký giả Phạm Xuân Ẩn. Thomas A.Bass (Báo Người New York) nhận xét: “Anh là một người bị xẻ đôi có lòng trung chính cao độ, một người sống với sự giả dối nhưng lại nói toàn sự thật”. Mai Chí Thọ đánh giá: “Phạm Xuân Ẩn là người đầu tiên chúng tôi gởi anh sang Mỹ để học biết cái văn hóa của những người thay thế Pháp làm kẻ thù của chúng tôi... Phạm Xuân Ẩn là một người hoàn hảo cho công tác này. Đó là một việc làm thành công lớn của chúng tôi... Phạm Xuân Ẩn có được những nguồn tin tốt nhất và được phép tiếp cận các thông tin mật. Sau chiến tranh, chúng tôi phong tướng cho Phạm Xuân Ẩn và danh hiệu Anh hùng Quân đội Nhân dân. Không cần phải nói thêm những chi tiết gì nữa, chỉ điều ấy thôi cũng đủ nói lên tầm quan trọng của những gì Phạm Xuân Ẩn đã làm cho quê hương của anh”.
Trong hồ sơ đề nghị phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho Phạm Xuân Ẩn, lãnh đạo Tổng cục II - Bộ Quốc phòng có ghi: “Đồng chí Trần Văn Trung (tên hoạt động ký giả là Phạm Xuân Ẩn), Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam, liên tục hoạt động trong vùng địch kiểm soát, luôn luôn nêu cao tấm gương về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng. Trong những tình huống hết sức khó khăn, phức tạp, đồng chí vẫn tích cực chủ động tiến công địch, bám chắc địa bàn, mưu trí sáng tạo. Đồng chí đã thu thập phân tích chiến lược và cung cấp kịp thời kế hoạch quân sự và tài liệu quan trọng khác phục vụ đắc lực cho việc nắm địch về chiến lược và trong các chiến dịch lớn tạo điều kiện cho lực lượng của ta đánh bại mọi mưu đồ, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù”.
Vào giữa năm 1999, nhân kỷ niệm ngày Nhà báo Việt Nam, Anh hùng Trần Văn Trung được mời về Biên Hòa để nói chuyện về kỷ niệm làm báo trong lòng địch với những đồng nghiệp trẻ ở quê hương. Khi được hỏi về nỗi niềm nghề nghiệp, ký giả lỗi lạc trả lời hóm hỉnh: “Có hai thứ “tình” khó kể trong lúc làm nhiệm vụ, đó là công tác tình báo và... tình yêu!”. Đúng là, về công tác tình báo, phải bảo mật tuyệt đối; về tình yêu cũng phải kín tiếng để tránh bị khai thác. Ít ai biết, chuyện tình của ông đối với người bạn đời Hoàng Thị Thu Nhạn cũng đượm màu “đặc biệt” như công tác của ông. Sau kết hôn, cô gái xứ lụa Hà Đông chỉ được chung sống với chồng 5 ngày rồi ngậm ngùi chia tay, mỗi người về với nhiệm vụ thầm lặng của mình.
Cởi mở với các nhà báo trẻ, Anh hùng Trần Văn Trung mới vui miệng kể về người cha của mình và thời gian sống ở Biên Hòa. Cha ông là một công chức trắc địa người Việt Nam xông xáo và tận tâm với công việc, lại giao du rộng nên rất được quan chủ tỉnh và các công chức Pháp ở Biên Hòa nể trọng. Trắc địa sư là công chức được giao phụ trách việc đo đạc, định hạng ruộng đất, đồn điền, thời ấy, đất đai cả một vùng miền Đông màu mỡ đang được khai phá nên ai cũng muốn cầu cạnh, làm thân. Khi biết vợ của viên trắc địa sư sắp đến ngày sinh nở, vị giám đốc của Nhà thương điên Biên Hòa có lời mời bà vào nơi mà nhà cầm quyền thực dân Pháp tự hào là khu điều trị bệnh tâm thần lớn nhất Đông Dương có bác sĩ người Pháp trực tiếp đỡ đẻ. Chào đời ở một nơi như vậy, nên tấm giấy khai sanh của Trần Văn Trung cũng khác thường vì những người chứng sinh toàn là các quan đốc tờ Tây. Cái giấy khai sanh độc đáo này cùng với bản lý lịch “ngon lành” có cha là trắc địa sư, công chức cao cấp của Pháp, trở thành loại “thông hành” có giá trị để sau này Trần Văn Trung được thuận lợi trong bước đầu đến với nghề báo và tình báo.
Cách mạng tháng Tám thành công, như bao thanh niên Việt Nam yêu nước khác, chàng trai 18 tuổi Trần Văn Trung háo hức tham gia vào thanh niên Tiền Phong. Trung vốn được theo cha đi khắp Nam Bộ, cám cảnh dân lành bị áp bức bóc lột, bất nhẫn với cảnh bất công nên mặc dù được học trường Tây, mức sống kiểu Tây nhưng Trung quyết không để bị Tây hóa. Khi tắm mình trong không khí độc lập tự do, Trung hiểu ra con đường phải chọn, nghe lời hiệu triệu của Việt Minh, đem hết nhiệt huyết tuổi thanh xuân phục vụ kháng chiến.
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội viên thanh niên Tiền Phong tỉnh Cần Thơ Nguyễn Văn Trung được chọn đi đào tạo ở Trường Quân sự Thanh Trị. Kết thúc khóa huấn luyện quân sự đầu tiên với loại xuất sắc, Nguyễn Văn Trung trở thành một chiến sĩ Vệ quốc đoàn tham gia đánh giặc khắp bưng biền miền Tây Nam Bộ.
Với bản lý lịch thuận lợi, năm 1946 anh bộ đội Nguyễn Văn Trung được lệnh trả lại súng để về Sài Gòn làm nhiệm vụ khác. Tổ chức giao cho Trung về thành và tìm mọi cách xin vào làm ở Sở Quan thuế Sài Gòn, đây là nơi rất thuận tiện để anh có thể nắm được và kịp thời báo cho cách mạng về tình hình vận chuyển hàng hóa, khí tài quân sự và quân đội viễn chinh do Pháp đưa từ mẫu quốc sang Việt Nam và từ Việt Nam về Pháp. Nguyễn Văn Trung không khó khăn gì để trở thành một công chức trong sở quan thuế Sài Gòn. Từ đây, mọi thứ hàng hóa, khí tài được nhập từ Pháp qua đều có báo cáo đưa về Bộ Chỉ huy Quân sự Miền. Tín hiệu mà người chiến sĩ quân báo Nguyễn Văn Trung đang hoạt động lặng lẽ, âm thầm ở Sài Gòn nhận lại được là những trận công đồn, những trận giao thông chiến mà bộ đội miền Tây và miền Đông đã đốt phá, tịch thu, hủy diệt nhiều sinh lực, vũ khí của địch.
Nhận thấy công việc của mình thầm lặng quá, trong khi khắp các chiến trường đang âm vang tiếng súng đuổi giặc năm 1951, Nguyễn Văn Trung làm đơn gởi về đơn vị xin cho mình được ra chiến trường cầm súng. Nguyện vọng của Trung là được chiến đấu ngay trên mảnh đất quê hương mình. Trung khao khát được tham gia Vệ quốc đoàn của Huỳnh Văn Nghệ lừng danh đang làm cho giặc Pháp điên đảo. Đầu năm 1952, Nguyễn Văn Trung nhận được thư của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - nguyên là thủ lĩnh thanh niên Tiền Phong trước đây, đang là Ủy viên của Ủy ban hành chánh kháng chiến Nam Bộ trực tiếp mời ra chiến khu đang tạm đóng tại Đất Cuốc. Lần này, Nguyễn Văn Trung cũng không được phân công cầm súng chiến đấu mà được động viên để nhận một nhiệm vụ thâm nhập trung tâm đầu não quân sự của giặc ở Sài Gòn. Nhiệm vụ của Nguyễn Văn Trung là phải bằng mọi cách khai thác các mối quan hệ sẵn có để tiếp cận cho được Bộ Tổng hành dinh quân đội liên hiệp Pháp. Cái “mác” học trường Tây, giấy khai sinh do Tây cấp, con của một cựu trắc địa sư tên tuổi, đã tạo nhịp cầu cho người chiến sĩ quân báo trở thành nhân viên tham mưu tin cậy trong Bộ Chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp.
Quân Pháp liên tục thất bại trên chiến trường Đông Dương, Mỹ từ viện trợ quân sự ban đầu cho Pháp đã trực tiếp can thiệp vào Việt Nam với ý đồ thay chân thực dân Pháp. Anh nhân viên tham mưu người Việt Nam có cái nhìn chiến lược về quân sự Nguyễn Văn Trung đã lọt vào cặp mắt xanh của trung tướng Edwar G.Lansdale, Trưởng nhiệm sở CIA và Trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (US. MAAG) ở Sài Gòn. Đã nắm được ý đồ can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, nên sau khi được báo cáo của Nguyễn Văn Trung, các đồng chí Mười Hương, Năm Xuân, Tư Hùng ... quyết định giao cho anh nhiệm vụ mới: bám sát nhóm cố vấn Mỹ MAAG. Để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đường dây hoạt động tình báo chiến lược đơn tuyến này, tổ chức bố trí cho Nguyễn Văn Trung một “hòm thư sống” mà anh chỉ được biết với tên là một phụ nữ gốc Long An gọi “chị Ba”. Thông qua chị Ba, Trung nhận chỉ thị của cấp trên và báo cáo phân tích của ngành tình báo chiến lược căn cứ trên mọi tin tức mà mình thu thập được.
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, giữa lúc cán bộ, bộ đội chuẩn bị xuống tàu tập kết ra miền Bắc, thì Nguyễn Văn Trung lại trở thành người cộng sự của phái bộ quân sự Mỹ tại Sài Gòn (Sài Gòn Military Mission) thường xuyên đến văn phòng hoặc nhà riêng để gặp gỡ Đại tá CIA Ed Lansdale, Thiếu tá Lou Conien, Trung úy Rufus Philyes chỉ huy một nhóm tình báo Mỹ ở Sài Gòn đang tìm cách củng cố chế độ Ngô Đình Diệm, tiêu diệt các giáo phái đối lập cùng các thế lực ảnh hưởng Pháp.
Năm 1955, phái bộ cố vấn quân sự Mỹ chính thức thay Pháp để đứng ra huấn luyện và xây dựng “Quân đội Quốc gia Việt Nam”, Nguyễn Văn Trung được cố vấn Mỹ đề nghị tham gia soạn thảo các tài liệu về tham mưu, tổ chức, tác chiến, huấn luyện, hậu cần. Đặc biệt, Nguyễn Văn Trung được Mỹ và Bộ Tổng tham mưu “Quân đội Việt Nam Cộng hòa” tham gia phái bộ thành lập bộ khung của 6 sư đoàn bộ binh đầu tiên của “Quân đội Việt Nam Cộng hòa” vốn thành phần nhân sự ban đầu là sĩ quan, hạ sĩ quan và binh lính người Việt trong quân đội liên hiệp Pháp trước đó, để lại. Nguyễn Văn Trung còn được giao hợp tác với Mỹ chọn lựa sĩ quan trẻ có “tinh thần quốc gia”, có triển vọng rồi kiểm tra trình độ Anh ngữ để đưa sang Mỹ đào tạo. Trong số 25 sĩ quan người Việt được đưa qua Trường tham mưu và chỉ huy (Command and General Staff ở căn cứ Fort Leavenuorth, Kansas City) để dự khóa huấn luyện tham mưu và chỉ huy trong 10 tháng, có Nguyễn Văn Thiệu (sau này là Trung tướng, Tổng thống chế độ Sài Gòn), Trần Ngọc Châu (sau đó là Trung tá Tỉnh trưởng Kiến Hòa, dân biểu quốc hội Sài Gòn) ...
Thực hiện một chủ trương chiến lược hoàn toàn mới mẻ trong toàn bộ các cuộc chiến tranh xâm lược trước đây ở Việt Nam của nhà tình báo lão luyện Ed Lansdale vốn cũng xuất thân là nhà báo; đầu năm 1957, được giải ngũ, Nguyễn Văn Trung chuẩn bị mọi thủ tục giấy tờ đi Mỹ học làm nghề báo chí, đồng thời học hỏi văn hóa Mỹ, hiểu tâm lý người Mỹ ...
Trước ngày lên đường sang Mỹ, Nguyễn Văn Trung được các đồng chí cấp trên căn dặn là phải cố gắng học cho thật giỏi. Đây cũng là cơ hội hiếm có để có điều kiện phát triển kiến thức, mà quan hệ với cấp trên, tiếp xúc với các cơ quan đầu não của địch thực hiện nhiệm vụ tình báo chiến lược.
Sau 2 năm du học ở Mỹ, Nguyễn Văn Trung về Việt Nam và được mời làm thông tấn viên cho Hãng Thông tấn Reuters. Ký giả Phạm Xuân Ẩn được Mỹ đưa đi đào tạo về nước lại làm cho hãng thông tấn của Anh và về sau là các báo Mỹ và giao du khá rộng rãi với các cơ quan quân sự, tình báo, thông tin Mỹ cùng quan chức cao cấp Phủ Tổng thống, cơ quan Đặc ủy tình báo, Tổng nha cảnh sát quốc gia, Bộ tổng tham mưu nên các chính khách, tướng tá của chế độ Sài Gòn hết sức quý trọng, đều nghi Phạm Xuân Ẩn là người của CIA. Cũng cần biết là các phe phái quân nhân cầm quyền ở Sài Gòn, tuy đều “thần phục” dưới bàn tay đạo diễn của Mỹ nhưng luôn hục hặc, tìm cách hất cẳng nhau... do đó, “ông nhà báo gốc CIA” trở thành nhân vật đáng nể mà phe phái nào trên chính trường Sài Gòn cũng muốn tranh thủ để vừa đón được ý đồ của quan thầy Mỹ vừa nghe ngóng địch tình. Nhờ vậy, các buổi tiệc ngoại giao của chính giới Sài Gòn đều luôn có mặt Phạm Xuân Ẩn. Vị ký giả điềm đạm này còn là khách mời của các chính khách tên tuổi ở Sài Gòn trong những buổi họp mặt ở các khách sạn Cravelle, Majectic... và được các cấp chỉ huy an ninh tình báo cũng như các tướng tư lệnh quân nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, tư lệnh vùng tiếp đón nồng hậu, lê la khắp các vũ trường tráng lệ nhất Sài Gòn lúc bấy giờ như QueenBee, Tự Do, Rite, Đêm Màu Hồng...
Qua những mối giao du đó, ký giả Phạm Xuân Ẩn lại càng nổi tiếng về những tin tức nóng hổi tính thời sự của tình hình miền Nam Việt Nam. Đặc biệt Phạm Xuân Ẩn còn có những bài báo chính xác các diễn biến thuộc nội tình chính giới Sài Gòn - nơi mà báo chí phương Tây cho rằng “Đảo chính xảy ra như ăn cơm bữa”, nên rất được các đồng nghiệp nước ngoài kính nể. Một loạt các tờ báo tên tuổi trên thế giới như như tuần báo Times, nhật báo New York Herald Tribune, Người hướng dẫn Thiên Chúa giáo... mời Phạm Xuân Ẩn làm đặc phái viên tại Sài Gòn. Các nguồn tin thu thập được càng mở rộng cũng có nghĩa là những bản báo cáo và phân tích tuyệt mật của Nguyễn Văn Trung qua hòm thư “chị Ba” được chuyển vào R càng phong phú, kịp thời. Với một khả năng phân tích, phán đoán nhạy bén, sắc sảo để kịp đưa ra trước công luận những bài báo ấn tượng, tạo thành tên tuổi cho ký giả huyền thoại Phạm Xuân Ẩn, người chiến sĩ tình báo chiến lược cũng đã có những lần bị “tai nạn nghề nghiệp” suýt làm ảnh hưởng đến chuyện lớn.
Theo lời kể của Phạm Xuân Ẩn, có một lần đại sứ Mỹ Federic Nolting đến khánh thành một đường băng mới trong phi trường Tân Sơn Nhất. Trước đó, Phạm Xuân Ẩn đã được một cô bạn người Mỹ làm thư ký ở Tòa Đại sứ Mỹ cung cấp cho bài phát biểu đã được ngài Đại sứ sửa tay hẳn hoi. Yên chí, Ẩn đưa tin trước để qua mặt các đồng nghiệp. Không ngờ hôm đó, Nolting không đọc nguyên văn bài phát biểu đã sửa và sáng hôm sau lại nghe tin đưa qua đài VOA khác đi, ông ta nổi giận lệnh cho bộ phận an ninh ở Tòa Đại sứ Mỹ phải tìm cho ra “lỗ rò rỉ tin nội bộ” này. Bọn tay chân của an ninh Mỹ tìm tới điều tra rất dữ, nhưng Phạm Xuân Ẩn vẫn khôn khéo bảo vệ được nguồn tin của mình.
Cũng theo lời kể của thiếu tướng anh hùng, một lần khác, có tin đồn là Henry Cabot Lodge sắp qua thay Đại sứ Federic Nolting. Phạm Xuân Ẩn liền đến một nhà hàng sang trọng “La Cigale” mà các quan chức Mỹ và các nhà ngoại giao cũng như ký giả nước ngoài hay đến để moi tin thẩm tra lời đồn đoán này. Ngồi được một lát thì ký giả thấy ông bí thư trẻ của Đại sứ Nolting thường ngày ăn mặc rất chỉnh tề, nhưng hôm ấy mặc áo chim cò dẫn một cô gái người Việt đi ăn. Ẩn lên tiếng hỏi, được trả lời: Chỉ còn một tuần lễ nữa hắn ta sẽ trở về nước, hôm nay đi xả hơi một chút. Với kinh nghiệm nghề nghiệp Phạm Xuân Ẩn nhanh chóng về văn phòng đưa tin Đại sứ Federic có thể được thay thế trong vòng một tuần lễ nữa. Tin này làm Nolting bực tức, còn Ngô Đình Nhu thì đùng đùng nổi giận lệnh cho Đặng Đức Khôi làm ở Phủ Tổng thống Diệm cho bác sĩ Trần Kim Tuyến gọi Phạm Xuân Ẩn đến để điều tra. Biết là sẽ có chuyện rầy rà với Nhu, Phạm Xuân Ẩn liền đến gặp bác sĩ Trần Kim Tuyến để nhờ “bảo vệ nguồn tin”.
Để hoạt động tình báo giữa hang hùm miệng rắn suốt 23 năm mà vẫn không lộ, thậm chí đến ngay sau những ngày đất nước vừa giải phóng, chính quyền địa phương đã khẩn cấp báo với Ủy ban quân quản là phải bắt ngay “tay CIA gộc còn nằm lại để thực hiện kế hoạch hậu chiến”, đồng chí Nguyễn Văn Trung đã tuân thủ phương pháp bảo mật hết sức chặt chẽ, đến mức phải chịu đựng sự hoài nghi, phân biệt ửng xử của “đằng mình”. Câu hỏi Phạm Xuân Ẩn - Anh là ai? Mãi đến khi Nhà nước công bố Quyết định phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho ông vào năm 1976, câu hỏi ấy mới được trả lời minh bạch. Trân Văn Trung mất ngày 20/6/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Anh hùng, Thiếu tướng Trần Văn Trung là nhà tình báo tài năng và bản lĩnh nhưng lại vô cùng khiêm nhường, bình dị, có quan hệ rộng mở với bạn bè, đồng nghiệp, có đời sống chan hòa trong gia đình và cộng đồng. Thành tích và cuộc sống của ông đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, theo đó đi vào lòng người. Cuốn sách Điệp viên hoàn hảo của Larry Berman gây chấn động dư luận là một trong những tác phẩm nói về Anh hùng Trần văn Trung



