TRẦN VĂN VI (1905-1989) – NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, BÍ THƯ XỨ ỦY GIẢI PHÓNG NAM KỲ
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có những người đã dành gần như trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều lần vào tù ra khám nhưng chưa bao giờ khuất phục trước kẻ thù. Đồng chí Trần Văn Vi là một trong những người như thế. Với bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần kiên trung, ông đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng tổ chức Đảng, lãnh đạo phong trào cách mạng ở Nam Kỳ và chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trần Văn Vi, bí danh Dân Tôn Tử, sinh ngày 2 tháng 5 năm 1905 tại làng Song Thuận, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc xã Song Thuận, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Sinh ra trong bối cảnh đất nước chìm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, ông sớm chứng kiến cảnh nhân dân bị áp bức, bóc lột. Chính điều đó đã hun đúc trong ông lòng yêu nước và khát vọng đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Khi trưởng thành, Trần Văn Vi tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại tỉnh Mỹ Tho và nhanh chóng trở thành Chi ủy viên, phụ trách công tác thanh niên.
Tháng 9 năm 1929, ông được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng, một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 12 năm 1929 đến tháng 5 năm 1930, ông giữ chức Bí thư Huyện ủy Châu Thành, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng tại địa phương. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930, Trần Văn Vi tập trung xây dựng hệ thống tổ chức Đảng ở cơ sở. Dưới sự lãnh đạo của ông, nhiều chi bộ Đảng tại các xã như Vĩnh Kim, Song Thuận, Kim Sơn và Bình Trung lần lượt được thành lập, trở thành lực lượng nòng cốt dẫn dắt phong trào đấu tranh của quần chúng.
Năm 1931, ông được điều động về Tỉnh ủy Mỹ Tho và tham gia lãnh đạo nhiều phong trào đấu tranh tiêu biểu của nhân dân. Trong các cuộc vận động nhân Ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 và Ngày Quốc tế chống chiến tranh đế quốc 1 tháng 8 năm 1931, hàng nghìn người dân đã tham gia mít tinh, biểu tình, rải truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm và đưa ra các yêu sách đòi tăng lương, giảm giờ làm, giảm tô thuế. Những phong trào ấy đã gây tiếng vang lớn và làm lung lay bộ máy cai trị của thực dân Pháp tại Nam Kỳ. Hoạt động cách mạng sôi nổi cũng khiến Trần Văn Vi nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giữ. Ông lần lượt bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn, bị đày ra Hà Tiên, Ô Cấp (Vũng Tàu) rồi sau đó tiếp tục bị đày lên nhà tù Bà Rá. Trong điều kiện lao tù vô cùng khắc nghiệt với bệnh tật, đói rét và những trận tra tấn dã man, ông vẫn tuyệt đối trung thành với Đảng, kiên quyết giữ bí mật tổ chức và không khuất phục trước mọi thủ đoạn của kẻ thù. Cũng như nhiều chiến sĩ cộng sản khác, Trần Văn Vi cùng các đồng chí đã biến nhà tù thành nơi học tập và rèn luyện. Ông tích cực nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, trao đổi lý luận cách mạng và củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc, chuẩn bị cho ngày trở về tiếp tục chiến đấu. Sau cuộc đảo chính của phát xít Nhật lật đổ thực dân Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Trần Văn Vi cùng nhiều đồng chí vượt ngục Bà Rá và nhanh chóng trở lại hoạt động.
Ngày 20 tháng 3 năm 1945, tại Xoài Hột (Mỹ Tho), ông cùng các đồng chí như Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Văn Cảnh và Nguyễn Văn Chim thành lập Xứ ủy lâm thời Nam Kỳ, còn gọi là Xứ ủy Giải Phóng, và được bầu giữ chức Bí thư Xứ ủy. Trên cương vị này, Trần Văn Vi tập trung củng cố hệ thống tổ chức Đảng trên toàn Nam Kỳ. Dưới sự chỉ đạo của ông, 10 Tỉnh ủy lâm thời và 6 Ban Cán sự Đảng được thành lập, tạo nên mạng lưới lãnh đạo thống nhất, góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Song song với việc xây dựng tổ chức, ông còn chỉ đạo xuất bản Báo Giải Phóng và Báo Độc Lập, hai tờ báo giữ vai trò tuyên truyền chủ trương của Đảng, cổ vũ tinh thần đấu tranh và hướng dẫn phong trào cách mạng ở Nam Bộ. Đồng thời, ông phân công cán bộ phụ trách công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị, phát triển lực lượng vũ trang và chuẩn bị vũ khí cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Trần Văn Vi tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tháng 1 năm 1948, ông giữ chức Phó Trưởng Ban Chính trị Khu 8, phụ trách dân quân. Tháng 2 năm 1951, ông tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng tại Việt Bắc, sau đó lần lượt giữ các chức vụ như Trung đoàn trưởng, Bí thư Liên chi và công tác tại Ban Tiếp vận miền Nam. Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra Bắc và tiếp tục phục vụ cách mạng trên nhiều cương vị khác nhau, từ công tác cải cách ruộng đất đến nghiên cứu lịch sử Đảng. Dù ở bất kỳ vị trí nào, ông vẫn luôn giữ vững phẩm chất của một người cán bộ tận tụy, hết lòng vì nhiệm vụ được giao. Sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Trần Văn Vi trở về quê hương Tiền Giang nghỉ hưu.
Ngày 2 tháng 8 năm 1989, ông qua đời, khép lại hơn sáu thập kỷ cống hiến không ngừng nghỉ cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tên tuổi Trần Văn Vi gắn liền với phong trào cách mạng Nam Kỳ, đặc biệt là vai trò lãnh đạo Xứ ủy Giải Phóng trong giai đoạn chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám. Cuộc đời ông là biểu tượng của lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, tinh thần bất khuất trước lao tù và sự cống hiến bền bỉ cho độc lập, tự do của dân tộc.


