Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Trần Xuân Đỉnh

Lào Cai13/05/2026Đoàn xã Bảo Nhai (Đoàn xã Bảo Nhai)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi Nguyễn Văn Cương sinh năm 1952 quê huyện Trấn Yên, Yên Bái, thường trú tại thôn Bảo Tân 2, xã Bảo Nhai, tỉnh Lào Cai, tôi nhập ngũ năm 1971, Câu chuyện bắt đầu từ mặt trận miền Đông Nam Bộ năm 1972. Bác nhập ngũ vào chiến trường miền Đông Nam Bộ năm 1972. Đến năm 1975, sau khi giải phóng Sài Gòn, bác tiếp tục được điều sang Campuchia, tham gia chiến đấu giải phóng Campuchia và đánh quân Pôn Pốt.

Tháng 12 năm 1978, bác được điều về Quân khu 2, đóng quân tại Lào Cai và tham gia nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc. Đến năm 1990, bác xuất ngũ và tham gia Hội Cựu chiến binh xã Bảo Nhai. Bác công tác tại đây đến năm 2011 thì nghỉ hưu theo chế độ bệnh binh.

Trong giai đoạn từ năm 1972 đến năm 1975, khi vào Nam chiến đấu, bác thuộc đơn vị Quân đoàn 4. Thời gian này, bác tham gia khoảng 5 trận đánh lớn. Trong số đó, bác ấn tượng sâu sắc nhất với trận giải phóng quận Dầu Tiếng.

Thời điểm ấy, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ đã suy yếu đáng kể trong cuộc chiến tranh Việt Nam và dồn toàn lực cho quân đội Sài Gòn bảo vệ khu vực phía Nam. Về phía ta, chủ trương lúc đó là giải phóng một số huyện lị, tỉnh lị ở vùng Đông Nam Bộ nhằm mở đường từ Đông – Tây Trường Sơn vào miền Đông Nam Bộ. Đơn vị của bác được giao nhiệm vụ tham chiến trong trận giải phóng Dầu Tiếng.

Trận đánh diễn ra trong điều kiện hết sức khó khăn nên công tác chuẩn bị được giữ tuyệt đối bí mật. Lực lượng tham gia gồm hai sư đoàn và hai lữ đoàn: Công Trường 7 và Công Trường 9 (tên gọi bí mật của Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9). Khi đó, ta đã có sự phối hợp binh chủng: bộ binh, xe tăng, pháo binh, công binh và thông tin, tất cả do tư lệnh quân đoàn chỉ huy. Xe tang, đạn dược được bí mật triển khai và tiếp cận trận địa nhiều ngày trước khi nổ súng.

Trận đánh bắt đầu lúc 4 giờ sáng. Ta đã nắm được lực lượng và bố phòng của địch, gồm khoảng một sư đoàn cùng nhiều trung đoàn, có cả xe tăng, pháo và các loại vũ khí hiện đại do Mỹ để lại. Giờ nổ súng được ấn định là N+5. Khi pháo hiệu gồm hai quả pháo đỏ được bắn lên, toàn bộ đơn vị đồng loạt nhận lệnh tấn công. Pháo binh ta bắn cấp tấp từ 5 đến 10 phút, sau đó chuyển làn để bộ binh và xe tăng xung phong tấn công.

Đơn vị của bác tấn công ở hướng tây, bên cạnh một con sông nhỏ có cây cầu bắc qua. Đầu cầu phía bên kia có một ủ lô cốt của địch, khiến đơn vị ba lần tổ chức vượt cầu nhưng đều không thành do hỏa lực đối phương quá mạnh. Trong tình thế đó, một chiến sĩ liên lạc tên Cần, quê Hà Nam, nhận nhiệm vụ phá lô cốt. Anh bí mật bơi ngược dòng sông khoảng 500–600 mét trong màn đêm, ôm theo hai lượng thuốc nổ. Lợi dụng bèo và cỏ trên mặt nước, anh tiếp cận lô cốt, ném hai quả thuốc nổ tiêu diệt hoàn toàn hỏa điểm của địch.

Sau khi lô cốt bị phá, đơn vị bác nhanh chóng vượt cầu, phối hợp với các đơn vị khác đánh chiếm mục tiêu. Chỉ sau khoảng 30 đến 90 phút, toàn bộ lực lượng hợp thành đã giải phóng xong quận Dầu Tiếng. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra lực lượng, đơn vị đã hao tổn khoảng 50% quân số.

Ngoài Dầu Tiếng, bác còn tham gia các trận đánh khác như Xuân Lộc, Biên Hòa và cả trận tiến vào Sài Gòn, tuy trận ở Sài Gòn không giao chiến nhiều bằng Xuân Lộc và Biên Hòa.

Trận Xuân Lộc diễn ra vào thời điểm sát ngày giải phóng miền Nam. Khi ấy, ta đã giải phóng liên tiếp nhiều vùng, từ miền Trung đến Phan Rang, Phan Thiết. Tuy nhiên, địch xem Xuân Lộc là “cánh cửa thép” bảo vệ Sài Gòn, chỉ cách Sài Gòn 60 km, nên dồn toàn bộ xe tăng và lực lượng mạnh nhất về đây.

Quân đoàn 4 được giao nhiệm vụ đánh Xuân Lộc, với lực lượng 3–4 sư đoàn cùng xe tăng và pháo binh. Trước giờ nổ súng, ta bắn pháo hiệu để thông báo cho dân sơ tán. Địch cũng nhận biết ta chuẩn bị tiến công. Trong các đợt tấn công trực diện ban đầu, dù pháo binh và xe tăng bắn cấp tập, ta vẫn không giải phóng được vì địch kháng cự quá mạnh. Sau đó, ta buộc phải chuyển sang phương án đánh vòng, cắt đường viện trợ của địch từ phía sau.

Trận Xuân Lộc kéo dài 7 ngày. Cuối cùng, ta mới đẩy lùi quân địch và giải phóng được Xuân Lộc. Sau khi Xuân Lộc thất thủ, toàn bộ các cánh cửa phía Bắc Sài Gòn mở toang, quân địch bắt đầu tan rã. Trận Xuân Lộc rất ác liệt, gây tiêu hao lớn, với tổn thất lên tới hàng nghìn người.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn