Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Trần Xuân Linh - Chuyện về tình đồng đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Ký ức về những ngày chiến đấu và khát khao tự do vẫn luôn sống mãi trong trái tim mỗi người lính

Gia Lai30/09/2026Đoàn Phường Tam Hiệp (Đoàn phường Tam Hiệp)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trần Xuân Linh - Chuyện về tình đồng đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Ký ức về những ngày chiến đấu và khát khao tự do vẫn luôn sống mãi trong trái tim mỗi người lính.Và  Cựu Chiến Binh Trần Xuân Linh cũng là một trong những người như thế,khi một trong những kí ức của ông là những câu chuyện không bao giờ cũ về chiến đấu, về những ngày tháng gian khó nhưng đầy tự hào. 

“Mưa dầm, cơm vắt”, một cụm từ quen thuộc nhưng lại gợi nhớ đến biết bao gian khó. Những đêm không ngủ vì mưa gió, những ngày hành quân với cơm vắt khô khốc, nhưng niềm tin vào chiến thắng, vào sự nghiệp giải phóng dân tộc đã tiếp thêm sức mạnh cho ông và đồng đội vượt qua tất cả.

Ông sinh năm 1949 tại xã Hưng Xá (nay là xã Long Xá), huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông nhập ngũ năm 1972, tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam và tiếp tục cống hiến trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc.

Một hành trình dài từ Bắc vào Nam, đầy gian nan vất vả. Mỗi bước đi, mỗi chặng đường ông đi qua đều đầy ắp những câu chuyện sinh tử.

 Ông chia sẻ: “Chúng tôi, dù mệt mỏi, dù có những lúc muốn bỏ cuộc, nhưng nhìn thấy đồng đội bên cạnh, tất cả đều tiếp thêm sức mạnh cho nhau. Chiến đấu vì quê hương, vì độc lập tự do của đất nước, đó là động lực lớn nhất.

Đến tháng 3/1975, CCB Trần Xuân Linh được điều động bổ sung vào Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, làm nhiệm vụ quân y, rồi cùng đồng đội hành quân về Buôn Ma Thuột tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Chiến đấu tại Đèo Phượng Hoàng, CCB Trần Xuân Linh cho biết, do địch bố trí các trận địa dày đặc trên Đèo Phượng Hoàng, nên đơn vị của ông phải nhận lệnh vượt qua các dãy núi cao để bí mật cơ động về phía Ninh Hòa, và đánh vu hồi. Đến ngày 1/4/1975, quân ta làm chủ hoàn toàn Đèo Phượng Hoàng - nơi được xem là "lá chắn thép" của địch trong chiến dịch Tây Nguyên 1975.

Chiến thắng lịch sử và những giây phút không thể quên

Kể đến đây, giọng ông nghẹn lại, những ký ức về những đồng đội đã hy sinh khiến ông không thể kìm nén cảm xúc. Trong những giờ phút quyết định của chiến dịch Hồ Chí Minh, khi cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, ông đã chứng kiến sự hy sinh của đồng đội tên Phiên, người lính đến từ Yên Bái, người không kịp sống để chứng kiến giây phút vĩ đại ấy.

"Chỉ còn vài giờ nữa thôi, nhưng đồng chí Phiên đã không còn sống để nhìn thấy đất nước giải phóng," ông nghẹn ngào kể lại, một nỗi đau không thể nào quên.

Với chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 30/4/1975, Dinh Độc Lập ngập tràn trong không khí vui mừng, nhưng đối với những người lính như Trần Xuân Linh, đó là một khoảnh khắc đầy ắp cảm xúc, vừa vinh quang, vừa tiếc nuối.

Là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, là người tuyên truyền viên tích cực, ông luôn nhớ về những ngày tháng chiến đấu, nhưng cũng không quên nhắc nhở thế hệ trẻ về trách nhiệm bảo vệ hòa bình.

“Chúng ta phải nhớ rằng, ngày hôm nay không thể có nếu không có những hy sinh của các thế hệ đi trước. Đó là bài học về lòng yêu nước, về trách nhiệm với tương lai của dân tộc.”

Những chiến sĩ hôm nay, dù không cầm súng, vẫn luôn chiến đấu vì những lý tưởng cao đẹp mà các thế hệ đi trước đã xây dựng.

Và để làm được điều đó, mỗi người dân cần trân trọng và gìn giữ hòa bình mà chúng ta đang có, để tiếp nối bản hùng ca của dân tộc Việt Nam

Tiếp đến cũng là một trong những cậu chuyện về những kí ức của chiến tranh từ một cựu chiến binh,nhưng khác xa với CCB Trần Xuân Linh,CCB Trần Xuân Lộc lại là một trong những tấm gương sáng khi ông từng là thương binh nặng vượt khó để có thể cùng các đồng chí đứng lên bảo vệ đất nước,và những ký ức của ông từ những ngày chiến đấu,tiếng bom đạn,súng nổ vẫn chưa bao giờ phai trong tâm trí của ông 

Ông là người từng chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc; là thương binh hạng 4/4. Song, với ý chí của Bộ đội Cụ Hồ, ông đã vượt qua tất cả khó khăn vì những vết thương để rời đất Bắc Ninh vào Lạc Dương, Lâm Đồng lập nghiệp.

Tháng 3/1983, ông Trần Xuân Lộc lúc đó mới 22 tuổi, nhập ngũ và huấn luyện tại Tân Yên (tỉnh Hà Bắc cũ) thuộc đơn vị C1 - Tiểu đoàn 901 - Bộ Tư lệnh Hóa học. Đến tháng 7/1984, ông được chuyển đến đơn vị là Tiểu đoàn 406 - Trung đoàn 821, Quân khu 2. 

Trong ký ức của ông, khi đó chỉ là cậu trai trẻ của mảnh đất quan họ Bắc Ninh, qua một thời gian huấn luyện, đơn vị được điều vào Vị Xuyên. Vào ngày 11/7/1984 đến ngày 12/7/1984, ông và đồng đội của mình tiến công bình độ 300, 400. 
 
Ông Lộc nhớ lại rằng, đạn pháo rót vào kinh hoàng, khi hỏa lực của ta khai hỏa, bộ binh vừa xung phong thì gặp ngay pháo binh địch bắn trùm lên đội hình của ta, gây thương vong lớn. Bản thân ông Trần Xuân Lộc cũng bị thương vào thời điểm đó, 2 ngày sau ông mới được chuyển đến trạm phẫu thuật vì tình hình quá ác liệt. 
 
Giữa muôn trùng đạn pháo của địch, những người lính trẻ lúc đó vẫn luôn tâm niệm rằng: “Sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử” được khắc trên báng súng của liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Viết Ninh hy sinh tại cao điểm 685. Chín chữ này về sau được xem như lời thề của những người lính Vị Xuyên. 

Năm 2020, ông được Ban liên lạc Hội CCB Mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên (Hà Giang) Trung đoàn 821, Quân khu 2 mời tham dự chuyến về nguồn tại Vị Xuyên nhưng đành lỡ hẹn với đồng đội vì phải tham gia các đợt tập huấn về công tác phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn (PCCC&CHCN), nên đây vẫn còn là một ước mong cháy bỏng của ông Lộc và ông mong có cơ hội khác để thực hiện ước mong ấy.
 
Ông tâm sự:” Mặc dù chuyến đi này rất ý nghĩa nhưng ở địa phương tôi tham gia tổ công tác PCCC&CHCN của thị trấn nên không thể lơ là nhiệm vụ được. Vì trong quá trình tập huấn nếu khuyết đi một chân thì sau này xảy ra sự cố gì thì mình làm sao có kỹ năng để xử lý cùng với các đồng đội mới được, vả lại thời gian gần đây thị trấn Lạc Dương và địa bàn huyện thường xuyên xảy ra những diễn biến thất thường của thời tiết nên phải túc trực sẵn sàng”.

Và để kết thúc những câu chuyện mang đầy ký ức từ những năm tháng thời hoa lửa của các Cựu Chiến Binh,thì chúng ta sẽ kết thúc bằng một câu chuyện của một tấm gương sáng,người mà đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình trong suốt chặng đường giải phóng miền Nam mang tên Nguyễn Đức Hoạt

 Cựu chiến binh Nguyễn Đức Hoạt (sinh năm 1948, trú tại phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, Hà Nội) là tấm gương sáng thuộc Sư đoàn 320, từng lên đường nhập ngũ vào tháng 3/1967 khi mới 19 tuổi để cống hiến tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Tháng 3/1967, khi vừa tròn 19 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, thanh niên Nguyễn Đức Hoạt đã cùng với nhiều thanh niên của quê hương Mỹ Đức hăng hái lên đường nhập ngũ, đem trí tuệ và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ cống hiến cho cách mạng. Sau khi nhập ngũ, ông được huấn luyện 6 tháng ở Hà Tây, sau đó vào Lạc Sơn, Hòa Bình. Ông được biên chế vào Tiểu đoàn Thông tin 18, sau được chuyển về Trung đoàn 52, Sư đoàn 320. Đơn vị được lệnh vào Nam chiến đấu. Đơn vị ông hành quân đúng 1 tháng thì vào đến vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải). 

Đầu tháng 3/1968, Trung đoàn 52 được lệnh xuống hoạt động ở vùng đồng bằng, khu vực các xã giáp biển Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ông Hoạt nhớ lại: Bộ đội và nhân dân ở đây đi lại, sinh hoạt đều theo giao thông hào và hầm hố sâu dưới lòng đất, phía trên mặt đất, bom đạn cày xới suốt ngày đêm. Cuộc sống sinh hoạt vô cùng khó khăn, vất vả. Anh em thì đang quen sống trong rừng, nay xuống hoạt động ở các xã giáp biển, thấy nó trống trải, cứ phơi mình dưới đồng bãi. Nên cùng với chuẩn bị hầm, hào, bộ đội được huấn luyện một số chiến thuật đánh địch ở đồng bằng, nhất là cách đánh và bố phòng trên cát và vượt sông. Trong thời gian này, Trung đoàn tham gia chiến đấu ở Cửa Việt. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được xuất trận và cũng là lần đầu tiên Đại đội 5 và Đại đội 6 chúng tôi đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tiên địch và bắt sống 20 tên, bắn cháy 2 xe tăng… Kết thúc Mậu Thân 1968, tôi được kết nạp vào Đảng (4/1968). Đến tháng 4/1970 tôi được đi học ở Trường Sỹ quan Lục quân. Năm 1971 học xong, tôi lại tiếp tục về đơn vị (đi B). Anh em chúng tôi lúc đó có khẩu hiệu: “Đi sâu, đi lâu, đi đến thắng lợi hoàn toàn”, xác định theo Đảng đến cùng. 

Ông Hoạt cho biết thêm: Thời điểm Hiệp định Paris 1973 được ký kết, đơn vị tôi được phân công nhiệm vụ cắm cờ giữ đất ở huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai; làm nhiệm vụ trao trả tù binh ở Gia Lai. Sau khi Mỹ tự ý phá vỡ Hiệp định Paris, chúng tôi lại được lệnh tiếp tục chiến đấu.

Ngày 24/4/1975, sau khi đánh thắng trận Cheo Reo-Phú Bổn, đơn vị được lệnh hành quân về Buôn Mê Thuột, vào Lộc Ninh, sang Chơn Thành, vượt sông Sài Gòn để sang đất Củ Chi, tập kết tham gia đánh Căn cứ Đồng Dù (29/4). Lúc đó, ông Hoạt là cán bộ thuộc phòng Chính trị nên đơn vị làm nhiệm vụ quân quản, không trực tiếp chiến đấu. Khi các đơn vị đánh thắng trận Đồng Dù, đơn vị ông làm nhiệm vụ tập trung dân lại, xem còn ai là người theo địch thì bắt ra trình diện (vì thời điểm đó, địch chạy ra dân rất nhiều). Đơn vị ở đây thêm 1 ngày, nên không hề biết là Sài Gòn đã giải phóng.

Ông Hoạt nhớ lại: Đến 2 giờ chiều ngày 30/4, chúng tôi mới nhận được tin giải phóng Sài Gòn. Đơn vị được lệnh chuẩn bị xe và vật chất tiến vào hướng Sài Gòn (từ Củ Chi về Sài Gòn lúc đó khoảng 28km). 5 giờ chiều ngày 30/4, đơn vị tôi xuất phát từ Củ Chi, đi ra đến xã Tân Phú Trung thì xe bị thủng két nước. Anh em phải vào nhà dân xin xà phòng để trát vào lỗ thủng của két nước. Dân phấn khởi và quý bộ đội lắm, họ ra chào đón và mang nhiều đồ mời bộ đội. Chúng tôi tiếp tục đi qua Hóc Môn, vào đến ngã tư Bảy Hiền (giờ là đường Cách mạng Tháng Tám), đến đây thì không biết đường để đến Dinh Độc Lập nữa nên anh em được lệnh quay ra, về đóng quân ở gần sân bay Tân Sơn Nhất (lúc đó là khoảng 1-2 giờ sáng ngày 30/4). Chờ đến sáng 1/5 thì đơn vị tiếp tục quay vào Sài Gòn, toàn đơn vị tập kết ở Trường Trung học Lê Quý Đôn (gần Dinh Độc Lập). Không khí lúc đó rất náo nhiệt, dân tràn ra đường đông lắm, các đơn vị bộ đội của ta từ các hướng cũng đổ về Sài Gòn rất đông. Anh em chúng tôi thì sướng vô cùng, vui sướng vì đã giải phóng được Sài Gòn, những cũng vẫn lo nhỡ còn tên địch nào đâu đó, nó nã đạn vào dân thì sao. Nên là vừa mừng vừa lo, đan xen cảm xúc... Đơn vị tôi ở đó 1 tuần để làm nhiệm vụ bảo vệ. Sau đó được lệnh rút quân về Củ Chi, ở đó hơn 1 năm thì chuyển ra Nha Trang. Tháng 10/1976, tôi chuyển ngành về Công ty ăn uống tỉnh Hà Tây. Làm đến 1991 thì tôi nghỉ hưu.

Kể từ chiến thắng mùa Xuân năm 1975, những người lính như ông Hoạt trở về quê hương tiếp tục phát huy tinh thần “thép” của người lính Cụ Hồ trong phát triển kinh tế gia đình, tích cực tham gia công tác xã hội ở địa phương và không quên kể về quá khứ hào hùng cho con cháu nghe.Với họ, những ngày tháng lịch sử làm nên đại thắng 30/4/1975 sẽ mãi là hồi ức không thể nào quên, là niềm tự hào không chỉ của thế hệ những người cầm súng chiến đấu, mà còn là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Trần Xuân Linh - Chuyện về tình đồng đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ | Câu chuyện thời hoa lửa