Trạng Me đè trạng Ngọt (1)
Trạng Me đè trạng Ngọt
Trạng Me đè trạng Ngọt
Sau khi vượt qua kỳ thi Hương và Hội, Hứa Tam Tỉnh bước vào kỳ thi Đình năm 1508 đời vua Lê Uy Mục. Tại đây, cậu học trò nghèo có cuộc đua tranh thú vị với một nho sinh tài năng không kém là Nguyễn Giản Thanh – một người không chỉ học giỏi mà còn nổi bật với dung mạo khôi ngô, tuấn tú, có biệt tài ứng biến giỏi.
Theo sách “Giai thoại lịch sử Việt Nam”, bấy giờ, khi chấm quyển thi, các quan trường thi nhận thấy Hứa Tam Tỉnh có bài tốt hơn so với Nguyễn Giản Thanh, dự kiến lấy đỗ trạng nguyên, Nguyễn Giản Thanh đỗ bảng nhãn, Nguyễn Hữu Nghiêm là thám hoa.
Dự kiến là vậy nhưng chưa được vua phê chuẩn chính thức. Khi ba người đỗ đầu vào yết kiến vua, bà Kinh phi là mẹ nuôi của vua nhìn thấy Nguyễn Giản Thanh có tướng mạo khôi ngô, tuấn tú, trong khi Hứa Tam Tỉnh dung mạo lại xấu xí. Bà chỉ vào Nguyễn Giản Thanh hỏi các quan trường thi: “Người này chắc là trạng nguyên”?
Quan chủ khảo không muốn phật ý mẹ vua nên lúng túng, chỉ cả vào Giản Thanh và Tam Tỉnh tâu rằng: “Hai người này tài học ngang nhau nên chúng thần chưa biết lấy ai đỗ trạng. Xin mẫu hậu và hoàng thượng phán xét”.
Vua cũng nghe nói bài của Hứa Tam Tỉnh hơn Nguyễn Giản Thanh nhưng thấy mẹ đang nhìn Nguyễn Giản Thanh với ánh mắt quý mến, nên muốn chiều lòng mẹ. Ông ra thêm bài phú “Phường thành xuân sắc” (cảnh mùa xuân ở kinh đô) để xét tài cao thấp.
Trước bài thi quyết định, Nguyễn Giản Thanh nghĩ nếu làm bằng chữ Hán sẽ không thể cao xa, thâm thúy bằng Hứa Tam Tỉnh, chi bằng làm bằng chữ Nôm, hình ảnh bóng bẩy, câu văn yểu điệu sẽ khiến mẫu hậu hiểu. Nghĩ rồi, ông ứng khẩu đọc liền một mạch:
“Chợ hoa đầm ấm, phố ngọc tần vần/Trai bảnh bao đá cầu vén áo/Gái éo le rủ yếm khỏi quần/Khách Tràng An cưỡi ngựa xem hoa rợp đường tử mạch/Chàng công tử ngựa xe giương tán, sáng dặm thanh vân…”.
Bà Kinh phi nghe đọc đến đâu hiểu đến đấy, nức nở khen hay. Ngược lại, bà không đánh giá cao bài phú bằng chữ Hán của Hứa Tam Tỉnh, vì không hiểu nhiều về văn tự. Vua đã muốn theo ý của mẹ, song còn hỏi thêm: “Trẫm nghe nói khanh người làng Ông Mạc, vậy có gần làng Phù Chấn quê ngoại trẫm không?”.
Hai làng này cùng ở trấn Kinh Bắc nhưng không gần nhau. Tuy vậy, Nguyễn Giản Thanh vẫn lém lỉnh trả lời: “Tâu hoàng thượng, hai làng liền một cánh đồng”. Đây là cách trả lời thông minh của Nguyễn Giản Thanh, bởi dù cách bao xa cũng liền mạch một cánh đồng.
Sau khi đàm đạo một hồi, lại thấy Nguyễn Giản Thanh người phủ Từ Sơn (quê ngoại của mình), vua truyền lấy Nguyễn Giản Thanh đỗ trạng nguyên, còn Hứa Tam Tỉnh từ chỗ đỗ trạng phải lùi xuống hàng bảng nhãn.
Biết chuyện này, nho sĩ Kinh Bắc làm vè chê Nguyễn Giản Thanh là “mạo trạng nguyên”, nghĩa là “trạng nguyên mặt”, vì đẹp trai được đỗ trạng. Hứa Tam Tỉnh, tuy không đỗ trạng nguyên, vẫn được gọi là Trạng Ngọt (ông trạng làng Ngọt).
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Giản Thanh được bổ nhiệm làm quan, trải qua nhiều chức vụ, thăng dần đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ (Tứ trụ triều đình). Dưới thời Mạc, Nguyễn Giản Thanh lại ra làm quan và được cử đi sứ sang nhà Minh. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ lễ kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, tước Trung Phụ bá. Khi mất, Nguyễn Giản Thanh được tặng tước hầu.



