Trang nhật ký ngày 1 tháng 7 của người lính Cồn Sông
Trong gia đình ông Nguyễn Ngọc Bính ở Cồn Sông có ba thế hệ nối nhau mặc áo lính. Cha ông là cụ Nguyễn Đức Thân, sinh năm 1920, tham gia quân đội từ năm 1950 đến năm 1970. Ông Bính nhập ngũ trong kháng chiến chống Mỹ. Sau này, người con trai Nguyễn Viết Hải lại tiếp tục công tác trong quân đội.
Ba thế hệ, ba thời kỳ khác nhau, nhưng đều gặp nhau trong hai chữ trách nhiệm.
Trong số những kỷ vật của gia đình, đáng quý nhất không hẳn là huân chương. Đó còn là những cuốn sổ nhỏ, mấy trang giấy đã ố vàng và một chiếc khăn mùi soa được đơn vị tặng thưởng. Mỗi vật đều gắn với một ngày cụ thể trong cuộc đời người lính Nguyễn Ngọc Bính.
Ông sinh năm 1946 ở vùng Cồn Sông, xã Thanh Tùng. Thanh Chương là miền quê có núi, có sông Lam và những bãi bồi trải dài. Người dân quanh năm lam lũ nhưng giàu nghĩa tình. Trong gia đình ông Bính, câu chuyện về người cha đi bộ đội chống Pháp đã trở nên quen thuộc từ thuở nhỏ.
Năm 1967, Nguyễn Ngọc Bính nhập ngũ. Ông trở thành chiến sĩ pháo cao xạ rồi được giao nhiệm vụ Trung đội trưởng. Công việc của đơn vị là bảo vệ đội hình hành quân, kho tàng và các tuyến giao thông trước những đợt đánh phá từ trên không.
Người lính pháo cao xạ phải sống giữa nhiều tiếng động: tiếng xe chạy, tiếng máy nổ, tiếng kẻng báo động và tiếng gọi nhau trên trận địa. Tuy nhiên, trong cuốn nhật ký, ông Bính không chỉ ghi những điều dữ dội. Ông còn ghi ngày đơn vị di chuyển, địa danh đi qua và những việc bình dị trong sinh hoạt.
Một trang sổ có dòng ghi ngày 1 tháng 7 năm 1972, đánh dấu thời điểm đơn vị cơ động từ khu vực Vĩnh Long qua Vĩnh Linh, hướng vào chiến trường Quảng Trị. Chỉ một dòng ngắn thôi nhưng chứa phía sau cả một cuộc hành quân.
Năm 1972, Quảng Trị là một trong những chiến trường trọng điểm. Bộ đội từ nhiều hướng được tăng cường vào mặt trận. Trên đường đi, đơn vị phải giữ đội hình, bảo vệ khí tài và sẵn sàng xử lý những tình huống bất ngờ. Mỗi người lính đều hiểu hành trình phía trước sẽ còn nhiều thử thách.
Đối với Trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Bính, trách nhiệm còn nặng hơn. Ông phải quan tâm đến từng chiến sĩ, kiểm tra quân số và nhắc mọi người giữ gìn trang bị. Người chỉ huy không thể chỉ nghĩ đến bản thân mình. Một quyết định vội vàng có thể ảnh hưởng tới cả trung đội.
Trong những giờ tạm nghỉ, ông tranh thủ ghi vài dòng vào sổ. Có lẽ lúc ấy ông không nghĩ cuốn nhật ký sẽ trở thành tư liệu cho con cháu sau này. Ông chỉ muốn giữ lại một dấu mốc: hôm nay đơn vị đã đi qua đâu, đồng đội vẫn ở bên nhau và nhiệm vụ đang tiếp tục.
Những trang nhật ký chiến trường khác với bài văn được viết trong lớp. Giấy có thể bị ẩm, chữ có chỗ vội vàng, câu chuyện nhiều khi dừng lại giữa chừng. Nhưng chính sự giản dị ấy làm cho chúng trở nên chân thực. Người đọc có thể cảm nhận lịch sử qua nét bút của một người đang sống trong thời điểm đó.
Chiếc khăn mùi soa ông Bính giữ lại cũng có câu chuyện riêng. Trong một đợt trực và làm nhiệm vụ tốt, ông được đại đội biểu dương. Cả trung đội chỉ có ba người được nhận phần thưởng. Chiếc khăn không có giá trị lớn về vật chất, nhưng đối với người lính trẻ, đó là sự ghi nhận của tập thể.
Từ năm 1967 đến 1976, Nguyễn Ngọc Bính trải qua gần một thập kỷ trong quân ngũ. Sau khi trở về Thanh Tùng, ông mang theo nhật ký, những giấy tờ và huân chương. Ông không cất chúng để khoe thành tích. Những kỷ vật được giữ lại như lời nhắc đối với gia đình về một giai đoạn không thể quên.
Trở về quê, người lính năm xưa tiếp tục lao động, xây dựng trang trại và chăm lo cuộc sống. Lúc rảnh, ông tìm niềm vui bên cây đàn mandolin. Một người từng nghe nhiều tiếng động của chiến tranh lại càng quý tiếng đàn trong thời bình.
Cha ông đã hoàn thành nhiệm vụ của thế hệ chống Pháp. Ông đi qua kháng chiến chống Mỹ. Người con trai tiếp tục phục vụ quân đội trong thời bình. Sự tiếp nối ấy không có nghĩa gia đình mong chiến tranh trở lại. Ngược lại, họ hiểu rõ giá trị của hòa bình nên càng ý thức trách nhiệm bảo vệ đất nước.
Nếu có dịp cầm một cuốn nhật ký cũ, các cháu đừng chỉ nhìn màu giấy đã úa. Hãy thử nghĩ về bàn tay từng viết lên đó. Có thể người viết đang ngồi dưới ánh đèn yếu, bên cạnh là chiếc ba lô và khẩu phần cơm chưa ăn hết. Họ không biết mấy chục năm sau con cháu sẽ đọc những dòng ấy, nhưng vẫn cố ghi lại để tự nhắc mình về đồng đội và nhiệm vụ.
Trang nhật ký ngày 1 tháng 7 năm 1972 của Nguyễn Ngọc Bính không dài. Nhưng từ Cồn Sông đến Vĩnh Linh rồi Quảng Trị, quãng đường phía sau nó dài bằng cả tuổi thanh xuân của một người lính.
Hôm nay, những kỷ vật ấy giúp lịch sử bước ra khỏi những con số khô khan. Ta hiểu rằng mỗi cuộc hành quân đều có con người cụ thể, có cha mẹ đợi ở quê, có đồng đội sát cánh và có những ước mong bình dị về ngày trở về.
Nguồn tư liệu đối chiếu: Báo Nghệ An – Kỷ vật của gia đình có ba thế hệ là bộ đội.



