Trên cung đường huyền thoại
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là tuyến vận tải chi viện chiến lược từ hậu phương lớn miền bắc chi viện cho chiến trường miền nam. Năm 1975, đường Trường Sơn đoạn qua Tây Nguyên đã góp phần đưa bộ đội ta tiến quân vào giải phóng Sài Gòn. Sau 44 năm đất nước thống nhất, đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh ngày nay đã nâng cấp, mở rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra cuộc sống mới trên đại ngàn Trường Sơn.
Con đường giữa đại ngàn Trường Sơn
Một ngày giữa tháng 5, ông Lê Trúc Phương, trú tại thị xã Gia Nghĩa (Đác Nông), nguyên Chánh Văn phòng Ban hành lang Quảng Đức (tỉnh Quảng Đức cũ), khăn áo chỉnh tề nhờ con cháu chở đến thắp nén nhang cho đồng đội tại Khu di tích lịch sử quốc gia địa điểm bắt liên lạc khai thông đường Trường Sơn, ở thôn Cây Xoài, thị xã Gia Nghĩa, nhân kỷ niệm 60 năm Ngày mở đường Trường Sơn. Bên nén nhang thơm nghi ngút khói, ông Phương kể: Việc soi, mở, khai thông đường Trường Sơn trên địa bàn Tây Nguyên ngày ấy là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng, nhưng vô cùng khó khăn, gian khổ. Trong điều kiện chiến trường mới lạ, cơ sở cách mạng chưa có, Tây Nguyên lúc bấy giờ vào mùa mưa, nước sông dâng cao và chảy xiết, việc định hướng để luồn rừng rất khó khăn, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Các đội công tác phải bám từng bon (buôn làng), móc nối từng người dân, trong điều kiện đói cơm, thiếu muối, thậm chí bị địch vây bắt, bị nước lũ cuốn trôi, nhưng cán bộ, chiến sĩ soi đường vẫn kiên trì luồn rừng tìm mở đường, từng bước tạo lập hành lang tuyến vận tải chiến lược... “Trong suốt cuộc đời làm cách mạng, kỷ niệm tôi nhớ nhất là vào ngày 30-10-1960, hai đội soi đường đã gặp nhau tại địa danh thôn Cây Xoài khai thông đường Trường Sơn, nối liền nam Tây Nguyên với các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Lúc đó, các đồng đội dù chưa từng gặp mặt, chưa biết tên, tuổi, quê quán của nhau nhưng đã lao đến ôm chầm lấy nhau mà khóc. Khóc vì đã thực hiện thành công nhiệm vụ được cấp trên giao, giúp con đường khai thông, chấm dứt thời kỳ gian khổ ở rừng thiêng nước độc mà bản thân và đồng đội vừa trải qua, khát vọng thống nhất non sông đã hé mở”, ông Phương bồi hồi nhớ lại.
Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tỉnh Đác Lắc - Đại tá, Anh hùng Lao động Lê Xuân Bá, nguyên Sư đoàn Trưởng Sư đoàn 470 (Đoàn 559), năm nay 86 tuổi, nhưng khi kể về những năm tháng ở Trường Sơn, đôi mắt ông sáng lên, giọng ông sảng khoái và mạch lạc: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Nguyên là địa bàn chiến lược, giữ vị trí xung yếu trên mặt trận giao thông vận tải chi viện cho tiền tuyến và cất giấu xe tăng, thiết giáp, vũ khí, lương thực và ém quân... Quá trình hình thành và hoạt động của tuyến chi viện đường Trường Sơn luôn gắn bó máu thịt với mảnh đất, con người Tây Nguyên. Các năm 1973 và 1974, hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn đã dũng cảm vượt qua thử thách dưới mưa bom, bão đạn, thời tiết khắc nghiệt, bám rừng núi mở đường và thông đường cho xe ra tiền tuyến; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh khi tuổi đời mới mười tám đôi mươi. Trong cuộc đời binh nghiệp, ông Bá nhớ nhất là trong hơn 20 ngày đêm cuối tháng 3, đầu tháng 4-1973, trước yêu cầu của Trung ương tăng cường chi viện cho tiền tuyến, Trung đoàn 4 Công binh, Sư đoàn 470 (Đoàn 559), dưới sự chỉ huy của ông - lúc đó ông Bá là Trung đoàn trưởng, đơn vị đã hoàn thành xây dựng một gầm và một cầu phà dài 100 m vượt sông Sê-rê-pốc, tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn (Đác Lắc). Quá trình xây dựng, địch nhiều lần mở các đợt tiến công ngăn chặn, khiến 57 chiến sĩ của Trung đoàn và Tiểu đoàn bộ binh 21, Sư đoàn 470 đã anh dũng hy sinh. Nhưng chính gầm và cầu phà hoàn thành đã giúp các đoàn xe tăng, thiết giáp, xe cơ giới của các đơn vị bộ đội chủ lực cấp tốc tiến về các tỉnh Đông Nam Bộ tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử...
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho tiền tuyến, Bộ đội Trường Sơn còn phối hợp chặt chẽ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương trên chiến trường Tây Nguyên thực hiện nhiều chiến dịch lớn, đập tan cuộc “chiến tranh ngăn chặn” của đế quốc Mỹ. Bà Rơ Châm Hyéo, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Gia Lai, kể: Chư Pao là ngọn núi có đỉnh cao 1.059 m so với mặt nước biển, nằm sát đường 14, nay là đường Hồ Chí Minh, thuộc huyện Chư Păh (Gia Lai) tiếp giáp tỉnh Kon Tum. Trong chiến tranh, bên nào chiếm được Chư Pao là khống chế trục đường giao thông huyết mạch 14. Trong cuộc chiến mùa hè năm 1972, quân ta mở chiến dịch Đác Tô - Tân Cảnh, cô lập Kon Tum và cắt đường 14. Từ núi Chư Pao, bộ đội chủ lực cùng dân quân du kích đào giao thông hào ra sát đường 14 để đánh địch, chiến sự ở đây diễn ra rất ác liệt. Khi đường 14 bị cắt, địch mở thêm tuyến đường mới (đường 14B) vòng phía sau dãy núi Chư Pao cho nên phải xây dựng hai cầu bê-tông qua suối. Để ngăn chặn địch tăng cường đánh phá, lực lượng bộ đội chủ lực và dân quân du kích đã men theo bờ suối đặt thuốc nổ đánh sập cầu nhiều lần, ngăn chặn địch để giữ vững tuyến đường chi viện cho tiền tuyến.
Được biết, việc mở đường hành lang trên địa bàn Tây Nguyên rất rộng - từ đông sang tây Trường Sơn dài hàng trăm ki-lô-mét, qua rừng rậm, suối sâu, sông rộng, có nơi chưa có dấu chân người. Nhưng nhờ có đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không quản ngại gian khổ, hy sinh để che chở, giúp đỡ, nhường cơm, sẻ áo, dẫn đường, cho nên đường hành lang chiến lược vừa mở đúng hướng, an toàn và rút ngắn được thời gian. Bên cạnh đó, nhân dân còn huy động cả voi, ngựa và hàng nghìn lượt người để vận chuyển vũ khí, đạn dược, đưa đón, bảo vệ an toàn cán bộ, bộ đội qua lại trên tuyến đường chiến lược này cho đến ngày toàn thắng.



