Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Triệu Thị Trinh - Biểu tượng bất khuất của dân tộc Việt Nam

Triệu Thị Trinh hay còn gọi là Triệu Trinh Nương, sinh năm 226, mất năm 248 sau công nguyên, là nữ Anh hùng dân tộc, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô trong thời Bắc thuộc. Bà được tôn xưng là Nhụy Kiều Tướng quân và Lệ Hải Bà Vương nổi tiếng với hình ảnh cưỡi voi trận, mặc giáp vàng oai nghiêm.

Cần Thơ08/08/2026Lương Nhật Minh (Hàm Liêm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Triệu Thị Trinh - Biểu tượng bất khuất của dân tộc Việt Nam

Trong dòng chảy lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hình ảnh Triệu Thị Trinh, (Bà Triệu) luôn tỏa sáng như một biểu tượng tiêu biểu của lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần bất khuất chống ngoại xâm. Bà sinh ra trong bối cảnh đất nước đang chịu ách đô hộ tàn bạo của nhà Ngô đã hun đúc trong bà ý chí đấu tranh mạnh mẽ ngay từ khi còn rất trẻ.

Mồ côi cha mẹ từ sớm, sống cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt. Triệu Thị Trinh không chỉ nổi bật bởi sự thông minh, gan dạ mà còn sớm bộc lộ khát vọng lớn lao vượt lên trên những ràng buộc thông thường của xã hội đương thời. Khi đất nước chìm trong cảnh lầm than, bà đã không chấp nhận cuộc sống cam chịu, mà quyết tâm đứng lên chống lại ách áp bức của chính quyền đô hộ.

Năm 248, khi mới khoảng 23 tuổi, bà cùng anh trai phất cờ khởi nghĩa tại vùng núi Nưa Thanh Hóa, nhanh chóng tập hợp được đông đảo nghĩa quân. Dưới sự lãnh đạo của Triệu Thị Trinh, phong trào khởi nghĩa lan rộng, gây tiếng vang lớn và làm rung chuyển bộ máy cai trị của nhà Ngô. Hình ảnh bà cưỡi voi xông pha trận mạc trong trang phục uy nghi, đã trở thành biểu tượng anh hùng sống động, khắc sâu trong tâm trí nhân dân.

Không chỉ thể hiện qua hành động, chí khí của bà còn được lưu truyền qua câu nói nổi tiếng, thể hiện rõ khát vọng tự do và tinh thần không khuất phục: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu cúi đầu làm tì thiếp cho người.” Câu nói ấy không chỉ phản ánh ý chí cá nhân mà còn là tiếng nói chung của cả dân tộc trong thời kỳ bị áp bức.

Khi hàng ngũ nghĩa quân thêm lớn, thanh thế thêm to, Triệu Thị Trinh đã trực tiếp chỉ huy nghĩa quân, xây dựng và phát triển lực lượng về vùng Phú Điền dựng căn cứ. Trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Tùng Sơn. Đây là một thung lũng nhỏ nằm giữa hai dãy núi đá vôi thấp, dãy phía bắc (Châu Lộc) là đoạn núi chót ngăn cách hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình cũ, dãy núi phía nam (Tam Đa) là đoạn chót của dải núi chạy dọc sông Mã. Chân phía bắc núi Châu Lộc là sông Lèn, chân phía nam núi Tam Đa là sông Âu, xưa là một dòng sông lớn. Thung lũng mở rộng cửa về phía đồng bằng ven biển và bị chặn ngang về phía tây bởi dòng sông Lèn. Ở căn cứ này, ngược sông Lèn có thể liên lạc với miền quê Bà Triệu. Là địa điểm gần biển, lại là cửa ngõ từ đồng bằng miền bắc vào Thanh, đó là một vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi cả công lẫn thủ. Ở đây còn có núi Chung Chinh với 7 đồn lũy tương truyền là quân doanh của Bà Triệu, nơi đã từng diễn ra trên ba chục trận đánh với quân Ngô. Dưới chân núi Tùng, còn có cánh đồng Lăng Chúa (lăng Bà Triệu), đồng Vườn Hoa, đồng Xoắn ốc... tương truyền là tên cũ còn lại khi Bà Triệu đắp lũy xây thành. Ở đây còn lưu hành rộng rãi truyền thuyết về ba anh em nhà họ Lý đi tìm Bà Triệu, rước Bà từ quê ra đây dựng doanh trại, sửa soạn khởi nghĩa và tôn Bà làm chủ tướng.

Cảm phục chí khí hiên ngang cứu nước của người con gái hơn hai chục tuổi đời, dân chúng Cửu Chân theo phục Bà rất đông. Các thành ấp của giặc Ngô đều bị triệt hạ, quan lại giặc từ thái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng, kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa lan ra Giao Chỉ ở ngoài bắc.

Truyền thuyết dân gian kể rằng: Bà Triệu đã chiến đấu chống giặc Ngô với trên ba mươi trận thắng lợi. Giặc gọi tên bà là Nhụy Kiều tướng quân (Vị tướng nữ yêu kiều), là Lệ Hải bà vương (Vua bà vùng quan yên). Quân Ngô sợ bà, thường có câu:

Hoành qua đương hổ dị. Đối diện Bà Vương nan.

Có nghĩa là: Múa ngang ngọn dáo dễ chống hùm. Đối mặt Vua Bà thì thực khó.

Đứng trước nguy cơ tan rã của chính quyền đô hộ ở Giao Châu, triều Ngô phải cử viên danh tướng Lục Dận (cháu họ danh tướng Lục Tốn) làm thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu úy, đem khoảng 8.000 quân sang Giao Châu đàn áp nhân dân khởi nghĩa. Kết hợp dùng binh lực uy hiếp, dùng mưu mô dụ dỗ, dùng của cải mua chuộc, Lục Dận đã khiến được ba nghìn hộ ở Cao Lương (Hợp Phố) dưới quyền thủ lĩnh Hoàng Ngô đầu hàng. Sau đó, Lục Dận thận trọng tiến binh vào Giao Chỉ và Cửu Chân, khi phát quân đàn áp, khi dừng quân dùng của cải, tiền bạc mua chuộc các thủ lĩnh địa phương. Dù đã chiến đấu anh dũng và giành được nhiều thắng lợi ban đầu, nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, cuộc khởi nghĩa của bà Triệu dần suy yếu. Năm 248, Triệu Thị Trinh đã anh dũng hy sinh tại núi Tùng, khép lại cuộc đời ngắn ngủi nhưng rực rỡ của một nữ anh hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Triệu Thị Trinh - Biểu tượng bất khuất của dân tộc Việt Nam | Câu chuyện thời hoa lửa