Triệu Thị Trinh
Bà Triệu (Triệu Thị Trinh, 226 – 248) là nữ anh hùng dân tộc kiệt xuất, biểu tượng cho chí khí quật cường chống ách đô hộ nhà Ngô. Hình tượng & Khí tiết: Sinh tại Thanh Hóa, giỏi võ nghệ. Bà nổi tiếng với tuyên ngôn bất hủ: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ... cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm thiếp người ta!" Khởi nghĩa (Năm 248): Năm 22 tuổi, bà cưỡi voi chiến, mặc áo giáp vàng ra trận chỉ huy nghĩa quân đánh đuổi quân Ngô, khiến kẻ thù khiếp sợ gọi là Lệ Hải Bà Vương. Hy sinh: Trước sức ép lớn từ tướng nhà Ngô là Lục Tốn, bà chiến đấu oanh liệt rồi tuẫn tiết trên núi Tùng (Thanh Hóa) để giữ trọn khí tiết ở tuổi 23.
Bà Triệu (226 – 248), tên thật là Triệu Thị Trinh (hoặc Triệu Trinh Nương), là một trong những vị nữ anh hùng dân tộc kiệt xuất nhất lịch sử Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa của bà vào thế kỷ III là ngọn đuốc rực sáng chống lại ách đô hộ tàn bạo của nhà Đông Ngô (thời Tam Quốc, Trung Quốc). Bà sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (226) tại vùng quan Cửu Chân, nay thuộc xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Tài năng: Cha mẹ mất sớm, bà sống với anh trai là Triệu Quốc Đạt — một tù trưởng có uy tín lớn trong vùng. Từ nhỏ, bà đã nổi tiếng vạm vỡ, sức mạnh phi thường, giỏi võ nghệ và giàu chí lớn. Bối cảnh: Bấy giờ, đất nước ta bị nhà Đông Ngô cai trị cực kỳ hà khắc. Thứ sử Giao Châu là Lục Thừa cùng dàn quan lại ra sức bóc lột, cướp đoạt tài nguyên, bắt dân ta lên rừng tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai khiến lòng dân vô cùng căm phẫn. Khi Bà Triệu đến tuổi trưởng thành, người anh trai lo lắng muốn tìm mối duyên lành cho bà. Đáp lại, bà đã khước từ và thốt lên câu nói bất hủ ghi danh vào sử sách:"Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm thiếp người ta!" Lời nói thể hiện tư tưởng vượt thoát khỏi định kiến phong kiến, đặt độc lập dân tộc và tự do cá nhân lên trên hết.Năm 228 (248), bà cùng anh trai bí mật tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ tại vùng núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hóa) và căn cứ Phú Điền (Hậu Lộc, Thanh Hóa). Bà Triệu làm Chủ tướng: Khi nghĩa quân lớn mạnh, Triệu Quốc Đạt chẳng may qua đời vì bệnh tật. Nghĩa quân tin tưởng tôn bà làm Tướng quân (Chủ tướng chỉ huy). Uy phong ra trận: Khi xung trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, cài trâm vàng, đi guốc guốc, cưỡi trên lưng voi chiến đầu đàn. Tiếng tù và cùng hình ảnh dũng mãnh của bà làm nức lòng quân sĩ nhưng lại gieo rắc nỗi kinh hoàng cho kẻ thù. Chiến công: Nghĩa quân liên tục tiến công, đánh phá các quận huyện nhà Ngô ở Cửu Chân, Giao Chỉ. Quân Ngô khiếp sợ gọi bà là "Lệ Hải Bà Vương" (Bà vua vùng biển nước mắt) và truyền nhau câu thơ dịch: "Tưởng phong đả trâm trảm / Nhất kiến Bà Triệu kinh" (Gió rung trâm rơi / Mới nhìn thấy Bà Triệu đã kinh hoàng) "Tưởng phong đả trâm trảm / Nhất kiến Bà Triệu kinh"(Gió rung trâm rơi / Mới nhìn thấy Bà Triệu đã kinh hoàng). Trước nguy cơ mất Giao Châu, vua Ngô là Tôn Quyền hoảng sợ, lập tức cử tướng kiệt xuất Lục Tốn (hoặc Lục Dận) làm Thứ sử Giao Châu, đem thêm 8.000 quân tinh nhuệ sang áp giải. Mưu hèn kế bẩn: Biết không thể đánh thắng bằng võ lực trực tiếp, Lục Tốn dùng vàng bạc, chức quyền để mua chuộc các tù trưởng địa phương nhằm cô lập nghĩa quân, đồng thời chia cắt lực lượng của bà. Oanh liệt tuẫn tiết: Sau hơn 6 tháng kiên cường chiến đấu trong thế bị bao vây và chênh lệch lực lượng, nghĩa quân suy yếu dần. Trong trận chiến ác liệt tại căn cứ Bổ Điền (núi Tùng, Hậu Lộc, Thanh Hóa), để không rơi vào tay giặc, Bà Triệu đã tuẫn tiết vào ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn (248), khi mới 23 tuổi.



