Triệu văn Hải
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA CỦA ÔNG ĐINH VĂN HẢI, SINH NĂM 1942, NƠI Ở THÔN KHE HÙM - XÃ BẢO ÁI - TỈNH LÀO CAI Ông Đinh Văn Hải, nhập ngũ năm 1964, đóng quân tại Đoàn Chiến Thắng thuộc tỉnh Tuyên Quang (cũ). Cuộc đời người chiến sĩ gắn liền với những bước chân bền bỉ và ý chí kiên cường. Từ khi khoác lên bộ quân phục họ hiểu rằng, phía trước không chỉ có khó khăn mà còn là trách nhiệm giữ gìn hòa bình cho quê hương, dù mỗi ngày đối mặt với nhiều thử thách, người chiến sĩ vẫn giữ tinh thần lạc qu
CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
CỦA ÔNG ĐINH VĂN HẢI, SINH NĂM 1942, NƠI Ở THÔN KHE HÙM - XÃ BẢO ÁI - TỈNH LÀO CAI
Ông Đinh Văn Hải, nhập ngũ năm 1964, đóng quân tại Đoàn Chiến Thắng thuộc tỉnh Tuyên Quang (cũ).
Cuộc đời người chiến sĩ gắn liền với những bước chân bền bỉ và ý chí kiên cường. Từ khi khoác lên bộ quân phục họ hiểu rằng, phía trước không chỉ có khó khăn mà còn là trách nhiệm giữ gìn hòa bình cho quê hương, dù mỗi ngày đối mặt với nhiều thử thách, người chiến sĩ vẫn giữ tinh thần lạc quan, luôn sẵn sàng giúp đỡ dân làng, bảo vệ biên cương, giữ vững niềm tin vào nhiệm vụ phía sau họ là gia đình chờ đợi là nỗi nhớ thầm lặng nhưng động lực để họ bước tiếp bước đi cuộc đời người chiến sĩ giản dị mà cao đẹp được tạo nên từ lòng trung thành tình yêu nước và ước mong đem lại cuộc sống bình yên cho mọi người .
Người chiến sĩ ấy đánh Mỹ từ năm 1964, ông đã bị địch bắt và giam giữ. Trong những năm đi kháng chiến, người chiến sĩ có nhiều kỷ niệm đẹp đáng nhớ.Trong cuộc kháng chiến gặp rất nhiều khó khăn, bị đói, chỉ có rau dại và măng.Ông có vai trò chỉ đánh bằng bút chứ không đánh nhau. Ông đạt huân chương kháng chiến.Thế hệ trẻ cần học tập tốt và rèn luyện kỹ năng để chuẩn bị cho tương lai. Mỗi người nên sống có trách nhiệm, biết sáng tạo và dám thử thách bản thân. Khi có ý chí và lý tưởng, chúng ta sẽ góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Khi kể cho con cháu nghe, ông không nhấn mạnh sự gian khổ để kể công hay để mong được biết ơn, mà ông muốn thế hệ trẻ hiểu rằng cuộc sống yên bình hôm nay phải trả bằng rất nhiều máu và nước mắt. Ông luôn nói: “Các cháu may mắn sinh ra trong hòa bình, nên hãy sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của biết bao người đi trước.”
Lời nhắn nhủ của ông không phải những lời giáo huấn khô khan, mà là những điều ông rút ra từ trải nghiệm của chính mình. Ông dặn thế hệ trẻ phải biết trân trọng hòa bình, phải giữ gìn truyền thống dân tộc, nhưng đồng thời cũng phải biết mở lòng học hỏi, tiếp thu cái mới. Ông bảo, thế hệ trẻ cần có lý tưởng, có trách nhiệm với bản thân, với gia đình và đất nước. Không nhất thiết phải ra chiến trường như ông ngày xưa, nhưng phải biết sống có ích, sống tử tế và nỗ lực theo đuổi điều tốt đẹp.
Câu chuyện của ông không chỉ là một phần ký ức của gia đình tôi mà còn là mảnh ghép của lịch sử. Giữa cuộc sống hiện đại đầy vội vã, lời kể của ông như một điểm tựa giúp tôi và những người trẻ hiểu hơn về giá trị của tự do và lòng biết ơn. Và mỗi khi nhớ lại, tôi luôn cảm thấy mình cần sống tốt hơn, để không phụ lòng mong mỏi của ông và của cả một thế hệ đã hy sinh vì hòa bình hôm nay.


