Trịnh Hoài Đức- nhà chép sử số 1 triều Nguyễn
Trịnh Hoài Đức sinh năm Ất Dậu (1765), tại thôn Bình Trước, dinh Trấn Biên (nay là thành phố Biên Hòa- Đồng Nai) tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, là một nhà thơ, nhà văn và là một sử gia nổi tiếng của Việt Nam sống ở thế kỷ 18.
Bộ sách “Gia Định thành thông chí” của ông cho đến nay vẫn được xem là một trong những sử liệu quan trọng nhất cho các nhà nghiên cứu sử học và địa lý của miền Nam Việt Nam. Ông cũng là một công thần của triều Nguyễn, đã giúp cho vua Gia Long rất nhiều về các phương diện ngoại giao, chính trị và kinh tế.
Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức từng làm quan dưới triều Minh, sau đó chống Thanh đã đưa cả gia đình sang Việt Nam xin tỵ nạn, cư ngụ tại dinh Trấn Biên (nay là Biên Hòa) theo Trần Thượng Xuyên. Thân sinh ông là Trịnh Khánh là người học rộng tài cao, giỏi nghề buôn bán.
Vào đời Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), Trịnh Khánh được bổ làm Cai thu, sau được thăng Cai đội, nhưng mất lúc Trịnh Hoài Đức mới 10 tuổi.
Năm 1776, Nguyễn Lữ mang quân Tây Sơn vào tấn công 3 dinh trấn Gia Định, Long Hồ và Trấn Biên, Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải chạy dạt về Bà Rịa lánh nạn, thời thế hỗn loạn nên ngay sau đó, mẹ ông rời nhà về dinh Phiên Trấn (Gia Định) cho ông theo học chữ của nhà giáo học lỗi lạc là cụ Võ Trường Toản, quê ở Bến Tre.
Cũng tại đây ông kết bạn với Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh để sau này thành lập nhóm “Bình Dương thi xã”, uy tín như Chiêu Anh Các của họ Mạc ở Hà Tiên và ba ông sau này được mệnh danh là “Gia Định tam gia”.
Khi quân Tây Sơn đánh vào Gia Định, Trịnh Hoài Đức chạy sang Chân Lạp (Campuchia) lánh nạn một thời gian. Thơ Trịnh Hoài Đức bộc lộ tình yêu sâu đậm đối với quê hương, làng cảnh Việt Nam, nơi nhà thơ đã chọn là quê hương của mình và phản ánh chân thật đời sống, sinh hoạt của con người thời bấy giờ.
Năm 1788, khi Chúa Nguyễn Gia Long mở kỳ thi hương đầu tiên tại đất Gia Định, cả 3 ông ra ứng thi và đều đỗ đạt, thành danh. Trịnh Hoài Đức được bổ làm Hàn lâm Viện Chế cáo, rồi được sung chức Điền Tuấn Quang, trông coi việc khai khẩn đất ở Gia Định.
Năm 1793 ông được lãnh chức Đông Cung Thị giảng, rồi phò Đông Cung Thái tử Cảnh ra giữ thành Diên Khánh-Khánh Hòa.
ăm sau, ông được thăng làm Ký lục dinh Trấn Ninh, đến năm 1801 thăng Tham tri Bộ Hộ. Ngay năm sau đó, 1802, ông được thăng chức Thượng thư Bộ Hộ rồi sung làm Chánh sứ cùng với Binh bộ Tham tri Ngô Nhân Tịnh và Hình bộ Tham tri Hoàng Ngọc Uẩn sang sứ Trung Quốc.
“Quan quang tập” là một tập thơ trong toàn bộ “Cấn Trai thi tập” của Trịnh Hoài Đức viết trên đường đi sứ Trung Quốc từ giữa năm 1802 đến đầu năm 1804. Người đời đọc dễ dàng cảm nhận đó là khúc ca của một người đắc lộ thanh vân mang trọng vụ bang giao giữa hai nước Việt -Trung trong giai đoạn đầu của triều đại nhà Nguyễn.
Có lẽ rất lâu sau đời Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Nguyễn Hiền… chúng ta mới bắt gặp lại một phong thái ung dung tao nhã của một sứ thần Việt Nam trong giao tế như Trịnh Hoài Đức. Dù ở góc độ nào, thơ của ông vẫn trăn trở, tâm huyết với từng động thái của nước nhà và nghĩ về ơn chúa, thấm nhuần đạo lý văn hoá của dân tộc Việt tại mảnh đất miền Nam nơi ông sinh ra, lớn lên và thành đạt.
Những quan viên nhà Thanh lúc bấy giờ vô cùng mến phục Trịnh Hoài Đức. Đồng thời nhân dân những nơi ông đến cũng rất có cảm tình với ông và sứ đoàn Việt Nam. Đến đâu ông cũng có thơ đề tặng, ghi lại mối tình của mình đối với những quan nhân triều Thanh.
Đối với các nhân sĩ nhà Thanh, ông làm thơ, hoạ thơ, đề vịnh lên tranh lên quạt tặng họ. Những bài thơ như thế vừa bày tỏ tình giao nghị giữa nhân sĩ hai nước vừa bộc lộ nét tài hoa của sứ thần Việt Nam.



