TRỊNH KIM THÀNH - NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
Cuộc đời quân ngũ của tôi còn để lại dấu tích được xác nhận bằng danh hiệu thương binh 4/4. Tôi không muốn ký ức về mình chỉ được nhìn qua hai chữ thương binh, càng không muốn làm lớn thêm những điều không cần thiết. Với tôi, điều sâu sắc hơn là nhận ra chiến tranh đã đi qua đời người bằng những cách có thể còn ở lại rất lâu sau khi tiếng súng đã lùi xa. Mang trong mình dấu tích ấy, tôi càng hiểu rằng bình yên chưa bao giờ là một khái niệm trừu tượng. Nó có thể được cảm nhận từ những điều rất gần: một ngày cuộc sống không bị chiến tranh chi phối, một gia đình có thể nghĩ đến tương lai, một người trẻ có thể dành những năm đẹp nhất cho học tập và lao động thay vì phải đối diện với sự bất trắc của thời chiến.
Có những dấu mốc càng lùi xa càng hiện lên rõ ràng trong ký ức. Với tôi, đó là năm 1972 – năm tôi rời Thiệu Hóa để bước vào quân ngũ. Tôi là Trịnh Kim Thành, sinh năm 1954, quê Thiệu Hóa. Khi ấy tôi khoảng mười tám tuổi, quãng đời phục vụ sau đó gắn với E429 – Quân khu 7, kéo dài đến năm 1978. Sáu năm ấy bắt đầu giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở một giai đoạn vô cùng quyết liệt và kết thúc khi đất nước đã thống nhất, đang bước vào những năm đầu khôi phục sau chiến tranh. Bởi vậy, nhìn lại tuổi trẻ của mình, tôi luôn thấy đó không chỉ là sáu năm của một đời người. Đó còn là sáu năm đi qua hai phía của một bước ngoặt lớn: từ những ngày non sông còn chia cắt đến những năm đầu tiên của một Việt Nam liền một dải.
Mười tám tuổi vốn là lúc con người có thể nghĩ đến rất nhiều điều phía trước. Tôi cũng có những ước mong bình dị như bao người trẻ khác, nhưng năm 1972, chiến tranh vẫn phủ bóng lên cuộc sống của cả dân tộc. Miền Bắc tiếp tục phải đối mặt với chiến tranh phá hoại; cuộc đấu tranh đi đến độc lập, thống nhất vẫn chưa kết thúc. Trong hoàn cảnh ấy, những dự định riêng không mất đi, nhưng thường được đặt sau một điều lớn hơn. Người trẻ thời chúng tôi sớm hiểu rằng mình đang sống trong một giai đoạn mà quê hương cần sức người. Khi đến lúc lên đường, trong lòng tôi có nỗi lưu luyến với gia đình, với Thiệu Hóa, nhưng cũng có sự thôi thúc rất rõ: tuổi trẻ của mình không thể chỉ đứng nhìn một thời cuộc lớn đi qua.
Tôi bước khỏi quê nhà với hành trang quan trọng nhất là niềm tin. Không phải niềm tin rằng phía trước sẽ dễ dàng, bởi ai sống trong những năm ấy cũng hiểu chiến tranh chưa thể kết thúc chỉ bằng mong muốn. Đó là niềm tin rằng nếu mỗi người biết làm phần của mình thì ngày đất nước đoàn tụ sẽ gần hơn. Ở tuổi mười tám, tôi chưa có nhiều trải nghiệm để nói những điều thật sâu xa, nhưng có sự hăng hái rất tự nhiên của người trẻ: đã đi thì đi cho vững, đã đứng vào hàng ngũ thì phải học cách sống xứng đáng với màu áo lính. Từ suy nghĩ giản dị ấy, sáu năm trong E429 – Quân khu 7 bắt đầu.
E429 – nơi sức trẻ được thử bằng năm tháng
Quân ngũ đưa tôi vào một môi trường hoàn toàn khác với cuộc sống trước đó. E429 – Quân khu 7 trở thành dấu mốc gắn với phần tuổi trẻ quan trọng của tôi. Từ một thanh niên mới mười tám tuổi, tôi phải làm quen với nề nếp, kỷ luật và đời sống tập thể. Trong quân đội, mỗi người không thể chỉ hành động theo cảm xúc riêng. Có những nguyên tắc phải tôn trọng, có những việc cần được thực hiện nghiêm túc và có những lúc phải biết gác lại sự thuận tiện của bản thân. Ban đầu, đó là những điều phải tập quen; về sau, chúng dần trở thành một phần trong cách sống. Tôi bắt đầu hiểu rằng trưởng thành không phải khi mình nói được những điều lớn lao, mà khi biết tự điều chỉnh chính mình trước những yêu cầu của cuộc sống.
Từ 1972 đến 1975, chiến tranh vẫn là thực tại lớn nhất của đất nước. Năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, mở ra một bước chuyển quan trọng, nhưng Việt Nam vẫn chưa thống nhất. Người lính vẫn tiếp tục đứng trong hàng ngũ với trách nhiệm của mình. Chính những năm ấy khiến tôi hiểu sâu hơn về sức bền. Sự hăng hái của tuổi mười tám có thể giúp một người bước đi rất nhanh lúc khởi đầu, nhưng để đi qua nhiều năm cần một điều khác: khả năng không để lòng mình dễ dàng chùng xuống. Có những lúc phải tự nhắc rằng con đường của đất nước còn dài hơn nỗi mệt của một cá nhân, và việc mình đang làm chỉ có ý nghĩa khi được giữ bằng sự nghiêm túc từ ngày này sang ngày khác.
Cuộc đời quân ngũ của tôi còn để lại dấu tích được xác nhận bằng danh hiệu thương binh 4/4. Tôi không muốn ký ức về mình chỉ được nhìn qua hai chữ thương binh, càng không muốn làm lớn thêm những điều không cần thiết. Với tôi, điều sâu sắc hơn là nhận ra chiến tranh đã đi qua đời người bằng những cách có thể còn ở lại rất lâu sau khi tiếng súng đã lùi xa. Mang trong mình dấu tích ấy, tôi càng hiểu rằng bình yên chưa bao giờ là một khái niệm trừu tượng. Nó có thể được cảm nhận từ những điều rất gần: một ngày cuộc sống không bị chiến tranh chi phối, một gia đình có thể nghĩ đến tương lai, một người trẻ có thể dành những năm đẹp nhất cho học tập và lao động thay vì phải đối diện với sự bất trắc của thời chiến.
Đồng đội – nơi gian khó được chia thành nhiều phần nhỏ hơn
Sáu năm quân ngũ sẽ không thể trở thành ký ức sâu đậm nếu thiếu đồng đội. Chúng tôi gặp nhau khi mỗi người từ một quê hương, mang theo những cách nói, tính tình và hoàn cảnh khác nhau. Có người dễ thân ngay từ đầu, có người phải qua thời gian mới hiểu. Nhưng đời sống quân đội khiến mọi người dần xích lại. Khi cùng đứng trong một nề nếp, cùng xa quê, cùng mang trong lòng những nỗi nhớ riêng, con người dễ nhận ra rằng sự chân thành quý hơn rất nhiều những lời hoa mỹ. Người ta tin nhau bằng cách sống, bằng thái độ trước khó khăn và bằng việc có biết nghĩ cho người bên cạnh hay không.
Tình đồng đội đối với tôi không nằm ở một câu chuyện duy nhất. Nó là tổng hòa của rất nhiều điều nhỏ đã góp lại qua sáu năm. Có lúc chỉ cần biết người bên cạnh cũng đang cố gắng là bản thân đã có thêm sức để tiếp tục. Có khi sự im lặng lại quý hơn một lời khuyên, bởi người ta hiểu nhau mà không cần hỏi quá nhiều. Sống trong tập thể, tôi học được rằng con người không phải lúc nào cũng mạnh như nhau. Có lúc mình là người cần được nâng tinh thần lên, có lúc lại phải biết giữ sự bình tĩnh để người khác thấy yên tâm. Chính cách những con người bình thường nương tựa vào nhau đã khiến một chặng nhiều khó khăn trở nên có thể đi qua.
Sau này, khi thời gian đã đưa mỗi người đến những ngả khác nhau, ký ức về đồng đội vẫn giữ nguyên một dáng vẻ rất trẻ. Trong trí nhớ, đó là những con người từng đứng cạnh nhau khi đất nước còn chiến tranh, rồi cùng chứng kiến ngày non sông thống nhất và tiếp tục bước qua những tháng năm đầu của hòa bình. Điều ấy làm tình đồng đội có một tầng ý nghĩa đặc biệt. Chúng tôi không chỉ cùng sống trong một đơn vị; chúng tôi còn là những người đã từng chia sẻ một thời điểm mà lịch sử thay đổi ngay trước mắt. Mỗi khi nghĩ đến họ, tôi cũng như nhìn lại chính mình của tuổi mười tám, hai mươi – tuổi mà con người còn rất nhiều sức lực, rất nhiều niềm tin và sẵn sàng dành những năm tháng đẹp nhất cho điều mình tin là đúng.
Từ ngày thống nhất đến những năm đầu dựng lại đất nước
Năm 1975 là một đường mốc đặc biệt trong sáu năm quân ngũ của tôi. Tôi nhập ngũ khi đất nước còn chia cắt và đã ở trong hàng ngũ ba năm khi ngày toàn thắng đến. Với một người lính trẻ từng bước vào quân đội giữa năm 1972 đầy biến động, khoảnh khắc đất nước hoàn toàn thống nhất mang một ý nghĩa khó có thể tách khỏi cuộc đời riêng. Điều mà biết bao thế hệ đã chờ đợi cuối cùng trở thành sự thật. Nhưng rồi rất nhanh, những người đang trong quân ngũ cũng hiểu rằng chiến thắng không phải lúc mọi trách nhiệm đều kết thúc. Một đất nước vừa đi qua chiến tranh còn cần rất nhiều thời gian, sức lực và sự bền bỉ để bắt đầu lại.
Tôi tiếp tục phục vụ đến năm 1978, nghĩa là ba năm sau ngày thống nhất vẫn còn ở trong hàng ngũ. Những năm hậu chiến ấy có những thử thách khác với thời chiến. Đời sống kinh tế còn nhiều thiếu thốn, việc khắc phục hậu quả chiến tranh và củng cố đất nước là một công việc lâu dài, trong khi những yêu cầu về quốc phòng vẫn luôn hiện hữu. Với tôi, chính quãng thời gian này làm rõ thêm ý nghĩa của người lính: không phải chỉ biết hướng tới ngày chiến thắng, mà sau chiến thắng còn phải biết giữ sự nghiêm túc khi đất nước đang dựng lại cuộc sống. Nếu thời chiến thử con người bằng sự bất trắc, thì hậu chiến lại thử bằng khả năng bền lòng với những công việc kéo dài và ít ồn ào hơn.
Năm 1978, tôi rời quân ngũ khi khoảng hai mươi bốn tuổi. Sáu năm trước, tôi là chàng trai mười tám tuổi từ Thiệu Hóa lên đường trong lúc chiến tranh còn quyết liệt; ngày trở về, đất nước đã thống nhất và bản thân cũng không còn nhìn cuộc sống như trước. Tôi mang theo dấu tích của một thương binh 4/4, nhưng cũng mang theo nhiều điều không nhìn thấy được: sự quý trọng đối với tình đồng đội, ý thức rằng bình yên có giá trị lớn đến đâu và một cách nhìn bình tĩnh hơn trước những thử thách của cuộc đời. Quân phục có thể cất lại, nhưng những năm tháng đã sống trong quân ngũ không thể tách khỏi con người mình về sau.
Dấu tích chiến tranh và lời nhắn từ một đời bình dị
Càng nhiều năm trôi qua, tôi càng không muốn nhắc quá khứ chỉ bằng những từ như gian khổ hay hy sinh. Sáu năm từ 1972 đến 1978 đối với tôi còn là một quãng trưởng thành, là thời gian tôi đi từ tuổi mười tám đến hai mươi bốn và chứng kiến đất nước bước từ chiến tranh sang hòa bình. Danh hiệu thương binh 4/4 nhắc về một phần dấu tích chiến tranh đã ở lại, nhưng nó không phải toàn bộ câu chuyện của một đời người. Phần quan trọng hơn là sau những năm ấy, mình đã hiểu thêm điều gì về sự sống, về quê hương và về giá trị của một ngày bình thường không bị chiến tranh làm đảo lộn.
Tôi mong thế hệ hôm nay khi nhìn vào những người đi trước không chỉ thấy những vết thương hay những năm tháng chiến tranh. Hãy nhìn cả điều mà những thế hệ ấy mong muốn sau cùng: một đất nước trong đó người trẻ được sống với những ước mơ của mình. Được học, được làm việc, được xây dựng gia đình và theo đuổi một cuộc đời bình thường cũng là những thành quả lớn của hòa bình. Vì thế, trân trọng lịch sử không phải là biến quá khứ thành điều nặng nề đặt lên vai con cháu. Trân trọng lịch sử là hiểu để biết quý hiện tại, biết mình đang có cơ hội mà nhiều người của những năm chiến tranh từng mong cho thế hệ sau.
Tôi đã lên đường năm mười tám tuổi, trở về sau sáu năm và mang theo một phần dấu tích của chiến tranh trong cuộc đời. Nhưng nếu phải chọn điều muốn trao lại cho con cháu, tôi sẽ không chọn kể về những gì đau đớn nhất. Tôi muốn các cháu nhớ rằng hòa bình quý nhất khi con người dùng nó để sống một đời tử tế và có ích. Đừng để sự bình yên làm mình quên trách nhiệm; cũng đừng để những khó khăn nhỏ của đời thường khiến mình dễ dàng bỏ cuộc. Mỗi thế hệ sẽ gặp những thử thách khác nhau, nhưng phẩm chất làm nên một con người vẫn không đổi: biết quý điều mình đang có, biết giữ nghĩa với người bên cạnh và biết sống sao để khi ngoảnh lại những năm tháng đẹp nhất, lòng mình không phải tiếc vì đã để chúng trôi qua vô nghĩa.



