Cựu chiến binh

TRỊNH KIM TOÀN - NHỮNG NĂM THÁNG IN DẤU THỜI TRAI TRẺ

Có những khó khăn kéo dài, và chính những điều kéo dài mới cho thấy một người có thể giữ mình đến đâu. Tôi học được sự nhẫn nại không phải từ một bài học được viết thành lời, mà từ việc sống qua những năm tháng không ai biết chính xác khi nào hòa bình sẽ đến.

Thanh Hóa17/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi những năm tháng đã lùi xa, tôi thường nghĩ đời người có những quãng không cần nhắc nhiều vẫn nằm nguyên trong trí nhớ. Với tôi, đó là bảy năm từ 1964 đến 1971, quãng đời gắn với F330. Tôi là Trịnh Kim Toàn, sinh năm 1939, quê Thiệu Hóa. Năm 1964, khi khoảng hai mươi lăm tuổi, tôi nhập ngũ. Đến năm 1971, tôi rời quân đội khi đã ngoài ba mươi. Bảy năm không phải cả một đời, nhưng đó là một phần rất dài của tuổi trẻ, lại nằm giữa thời kỳ đất nước trải qua những biến động lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bởi vậy, sau này mỗi lần nhắc tới F330, tôi không chỉ nhớ tên một đơn vị. Tôi nhớ một con người khác của chính mình – còn trẻ, còn nhiều sức lực, sống giữa một thời mà chuyện của đất nước gần như đi vào từng suy nghĩ của mỗi gia đình.

Năm 1964, đất nước vẫn chia cắt. Miền Bắc đang xây dựng trong điều kiện hòa bình chưa thật sự vững chắc, còn tình hình chiến tranh ở miền Nam ngày càng căng thẳng. Chỉ một thời gian sau, từ năm 1965, chiến tranh phá hoại mở rộng ra miền Bắc, đưa đời sống của cả nước vào một hoàn cảnh quyết liệt hơn. Tôi lên đường đúng vào thời điểm ranh giới giữa những năm tương đối yên ổn và những năm chiến tranh khốc liệt đang ngày càng mỏng đi. Ở tuổi hai mươi lăm, tôi đã đủ lớn để hiểu rằng việc rời quê không chỉ là thay đổi chỗ ở hay bắt đầu một công việc khác. Đó là bước vào một đời sống mà sự riêng tư phải nhường chỗ cho những yêu cầu lớn hơn, nơi mình không thể chỉ nghĩ theo ý mình nữa.

Thiệu Hóa đối với tôi khi ấy là nơi có gia đình, có những gì quen thuộc nhất của một người đã sống gần trọn tuổi thanh niên ở quê nhà. Vì thế, lên đường chắc chắn không thể không có lưu luyến. Nhưng sự lưu luyến ấy lại khiến tôi hiểu rõ hơn vì sao mình phải đi. Có những lúc người ta chỉ thật sự biết một nơi quan trọng với mình đến mức nào khi phải rời khỏi nó. Tôi mang quê hương theo bằng một cách như thế – không cần phải biến thành lời, chỉ là luôn biết mình đã đi từ đâu và trong lòng còn một nơi để nhớ. Phía trước chưa biết dài bao lâu, nhưng bước chân đã đặt vào quân ngũ thì tôi chỉ nghĩ phải sống sao cho những năm xa quê ấy trở thành một phần đời đáng nhớ.

F330 và những năm tháng làm người lính giữa chiến tranh

Quãng phục vụ của tôi gắn với F330. Những nhiệm vụ cụ thể của từng người trong đơn vị qua từng thời điểm không phải điều có thể tùy ý kể thêm, nhưng chỉ riêng việc sống trong quân ngũ giữa những năm chiến tranh đã đủ để một người thay đổi. Từ nếp sống ở quê, tôi bước vào môi trường có tổ chức, có yêu cầu rõ ràng và có những nguyên tắc không thể xem nhẹ. Người lính phải biết đúng giờ, biết tự quản, biết giữ mình trước những lúc mệt mỏi và biết rằng một tập thể chỉ có thể vững khi từng người không sống tùy tiện. Những điều ấy ban đầu có thể là khuôn phép bên ngoài, nhưng qua năm tháng lại trở thành thói quen bên trong.

Từ năm 1965 trở đi, cuộc chiến ngày càng quyết liệt. Miền Bắc phải vừa duy trì sản xuất, xây dựng vừa đối mặt với chiến tranh phá hoại, trong khi cuộc đấu tranh ở miền Nam vẫn tiếp tục. Trong hoàn cảnh ấy, người lính hiểu rằng không thể sống bằng tâm thế của những ngày bình thường. Mỗi người phải tự tạo cho mình sức chịu đựng, sự bình tĩnh và khả năng giữ vững tinh thần qua những thời điểm nhiều biến động. Tôi không nghĩ bản thân khi ấy có những lời lẽ lớn lao về lý tưởng. Điều gần gũi hơn là cảm giác mình đang đứng trong một đội ngũ, và đã đứng vào đó thì phải biết giữ lấy vị trí của mình. Có thể ngày hôm ấy không có gì đặc biệt để nhớ, nhưng thái độ của mình với ngày hôm ấy vẫn rất quan trọng.

Bảy năm cũng đủ dài để con người đi qua nhiều trạng thái. Có sự hăng hái khi mới vào quân ngũ, có những lúc nỗi nhớ quê trở nên rõ hơn, có cả những khoảng lặng khi người ta tự hỏi bao giờ chiến tranh mới kết thúc. Nhưng chính thời gian khiến những suy nghĩ ban đầu bớt bồng bột. Tôi dần hiểu rằng kiên trì không phải lúc nào cũng là một trạng thái mạnh mẽ. Có khi kiên trì chỉ là sáng hôm sau vẫn tiếp tục công việc của mình như cần phải thế; vẫn giữ được sự tỉnh táo khi hoàn cảnh không thuận; vẫn không vì một chút mỏi mệt mà cho phép bản thân buông xuôi. Những điều ấy không tạo ra tiếng vang, nhưng lại âm thầm làm nên con người của những năm tháng về sau.

Đồng đội – những gương mặt làm ký ức không trở nên lạnh lẽo

Nếu chỉ còn những mốc 1964, 1971 và cái tên F330, quãng quân ngũ ấy sẽ chỉ là vài dòng thông tin. Điều khiến nó trở thành một phần sống động của cuộc đời chính là đồng đội. Chúng tôi đến từ nhiều quê hương, mỗi người mang theo một giọng nói, một tính cách, một nỗi nhớ riêng. Ban đầu là những con người xa lạ, nhưng rồi cuộc sống chung khiến người ta hiểu nhau bằng những điều không cần phải nói nhiều. Một người sống có trước có sau, một người biết nhường khi cần, một người ít lời nhưng giữ được sự chân thành – những điều ấy lâu ngày trở thành lý do để người ta quý nhau.

Trong những năm chiến tranh, ai cũng có những nỗi lo riêng, nhưng ít khi một người có thể chỉ sống với nỗi lo của mình. Nhìn người bên cạnh, người ta tự hiểu rằng không phải mình mới biết nhớ nhà, không phải mình mới có lúc mệt mỏi. Chính cảm giác ấy khiến lòng người rộng ra. Đồng đội không phải lúc nào cũng giúp nhau bằng việc lớn. Nhiều khi chỉ cần thái độ bình tĩnh của một người cũng đủ khiến người khác yên tâm; một câu nói nhẹ đúng lúc cũng có thể làm cho ngày dài bớt nặng. Qua những năm tháng ấy, tôi hiểu rằng con người có thể chịu được nhiều điều hơn khi không phải chịu một mình.

Sau này, thời gian đưa mỗi người về một nơi, nhưng hình ảnh đồng đội vẫn nằm lại ở đúng tuổi của những năm ấy. Trong trí nhớ, chúng tôi vẫn là những người lính còn khỏe, còn nhiều hy vọng, chưa ai biết đời mình sau này sẽ đổi thay ra sao. Có lẽ vì thế mà ký ức đồng đội luôn có một nét đặc biệt: nó giữ lại tuổi trẻ mà năm tháng ngoài đời không thể giữ được. Nhắc đến những người từng ở cùng hàng ngũ, tôi không nghĩ trước hết tới khó khăn. Tôi nhớ cảm giác từng có một quãng đời mình được sống giữa những con người mà chỉ cần biết họ vẫn ở bên cạnh cũng đủ để lòng bớt chông chênh.

Bảy năm đi qua một đất nước chưa kịp yên

Từ 1964 đến 1971 là quãng thời gian chiến tranh có nhiều biến động. Tôi nhập ngũ khi cuộc chiến chưa mở rộng như những năm sau, rồi tiếp tục ở trong quân đội khi từ năm 1965, chiến tranh phá hoại miền Bắc trở nên ngày càng quyết liệt. Những năm cuối thập niên 1960 tiếp tục là thời kỳ đầy thử thách đối với cả nước. Lịch sử sau này có thể được nhìn lại bằng những mốc rõ ràng, nhưng khi đang sống giữa nó, con người thường chỉ cảm nhận từng ngày trôi qua và mang theo một niềm mong rất giản dị: đất nước sớm có hòa bình, gia đình được sum họp, những người trẻ không còn phải sống giữa chiến tranh.

Tôi nhập ngũ khoảng tuổi hai mươi lăm và rời quân ngũ khi khoảng ba mươi hai. Đó là quãng mà một người từ tuổi thanh niên bước dần sang độ tuổi chín chắn hơn. Bảy năm ấy lấy đi nhiều thời gian của đời riêng, nhưng cũng cho tôi một cách nhìn khác về con người. Tôi hiểu rằng khó khăn không phải chuyện chỉ cần cố một lần là vượt qua. Có những khó khăn kéo dài, và chính những điều kéo dài mới cho thấy một người có thể giữ mình đến đâu. Tôi học được sự nhẫn nại không phải từ một bài học được viết thành lời, mà từ việc sống qua những năm tháng không ai biết chính xác khi nào hòa bình sẽ đến.

Năm 1971, tôi rời quân ngũ, nhưng chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Đất nước còn phải tiếp tục đi qua những năm 1972, 1973 rồi mới tới ngày thống nhất năm 1975. Vì thế, trở về quê hương khi ấy không mang cảm giác một chương lớn đã hoàn toàn khép lại. Tôi trở về trong lúc nhiều đồng đội, nhiều người lính khác vẫn tiếp tục phần đường phía trước. Cảm giác ấy khiến tôi càng hiểu rằng trong lịch sử, mỗi người chỉ đi một đoạn. Có người bắt đầu sớm hơn, có người ở lại lâu hơn, nhưng tất cả những đoạn đời ấy nối vào nhau để làm thành một chặng lớn hơn của đất nước. Tôi đã đi bảy năm trong chặng ấy, rồi trao phần còn lại cho những người tiếp tục đứng trong hàng ngũ.

Sau F330, tôi hiểu tuổi trẻ đáng nhớ vì điều gì

Nhiều năm sau nhìn lại, tôi không còn muốn cân đo bảy năm quân ngũ bằng những gì đã mất hay đã chịu đựng. Tôi nghĩ nhiều hơn về điều quãng ấy đã để lại. F330 gắn với một thời mà tôi học được cách sống bớt tùy ý, biết giữ lời hơn, biết quý tình nghĩa và hiểu giá trị của những điều tưởng nhỏ. Bảy năm có thể làm một người thay đổi mà chính họ không nhận ra ngay. Chỉ đến khi trở về với cuộc sống đời thường, đối diện những khó khăn khác, tôi mới thấy trong mình đã có thêm một sự nhẫn nại và một cách bình tĩnh mà những năm trước chưa hẳn có.

Hôm nay, chiến tranh đã lùi rất xa với nhiều thế hệ trẻ. Tôi nghĩ đó là điều đáng mừng nhất mà người đi trước có thể mong. Con cháu không cần phải sống những năm như chúng tôi để hiểu lịch sử. Điều cần hơn là biết lịch sử đã đi qua những gì để không xem sự bình yên hiện tại như một điều tự nhiên vốn phải có. Được sống trong một đất nước thống nhất, được học hành, làm việc, nuôi dưỡng những dự định riêng là những quyền rất đỗi bình thường hôm nay nhưng từng là niềm mong mỏi lớn của những thế hệ sống giữa chiến tranh. Khi hiểu như thế, lòng biết ơn sẽ không còn là điều phải nhắc bằng những câu quá lớn.

Nếu có điều muốn gửi lại, tôi chỉ mong con cháu hiểu rằng một đời người không nhất thiết phải có những chuyện thật vang dội mới trở nên đáng nhớ. Có khi điều khiến tuổi trẻ ở lại lâu nhất chính là mình đã sống thế nào trong những năm tháng mà mình được giao phó. Tôi có bảy năm F330, từ 1964 đến 1971. Bảy năm ấy không làm tôi trở thành một con người khác thường; nó chỉ khiến tôi hiểu sâu hơn thế nào là nghĩa tình, thế nào là bền lòng và vì sao một ngày yên ổn lại đáng quý. Sau rất nhiều năm, đó mới là phần ký ức tôi muốn giữ nguyên vẹn nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
TRỊNH KIM TOÀN - NHỮNG NĂM THÁNG IN DẤU THỜI TRAI TRẺ | Câu chuyện thời hoa lửa