Trịnh Ngọc Trình — cậu liên lạc mất một cánh tay và ngọn đuốc Ba sẵn sàng
Mười ba tuổi, Trịnh Ngọc Trình bị bắn gần đứt tay khi chuyển công văn nhưng vẫn vượt kênh giao tài liệu; nhiều năm sau, ông góp phần khởi nguồn phong trào Ba sẵn sàng.
Tháng 3-1947, quân Pháp đánh chiếm Ninh Bình. Trịnh Ngọc Trình, cậu liên lạc của Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 34, nhận lệnh mang công văn xuống Đại đội 10 ở Thành Mỹ, huyện Hoa Lư, báo tin đối phương chuẩn bị tập kích. Khi đi gần khu vực nhà thờ thị xã, Trình bị phát hiện. Ba lính Pháp đuổi theo, bắn chéo cánh sẻ để chặn đường và bắt sống người mang tài liệu. Cậu lao qua cánh đồng lúa, một viên đạn đánh gần đứt lìa cánh tay trái. Dù cánh tay chỉ còn lủng lẳng, Trình vẫn giữ công văn, vượt qua con kênh và chỉ dừng lại sau khi giao tận tay đơn vị.
Vết thương buộc bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ phải cắt cánh tay. Bùn ruộng bám vào làm nhiễm trùng nặng, tính mạng cậu bé nhiều lần bị đe dọa. Hơn một tháng điều trị, với sự chăm sóc kiên trì của bác sĩ, Trình mới qua khỏi. Điều khiến mọi người kinh ngạc là vừa hồi phục, cậu xin trở lại đơn vị. Câu chuyện được bác sĩ viết lại với tên “Em Ngọc” trên Báo Vui sống năm 1947. Tên gọi ấy đi vào trường học và phong trào thiếu niên; nhiều người biết “Em Ngọc” trước khi biết tên thật Trịnh Ngọc Trình.
Trình sinh năm 1934 tại xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư. Tháng 10-1945, mới mười một tuổi, cậu vượt qua tuyển chọn để làm liên lạc. Công việc không chỉ là chạy nhanh. Người liên lạc phải thuộc đường, giữ kín nội dung, quan sát chốt gác và tự xử trí nếu tuyến chính bị cắt. Công văn trong trận đánh có thể điều một đại đội tránh phục kích hoặc đến vị trí đúng giờ. Vì vậy, khi bị thương, Trình hiểu nhiệm vụ chưa hoàn thành nếu tài liệu vẫn nằm trong tay mình. Sự bình tĩnh ấy làm câu chuyện “Em Ngọc” được đưa vào sách Tiếng Việt cấp tiểu học từ năm 1954 đến 1975.
Năm 1950, ông được cử đi học thiếu sinh quân ở Việt Bắc. Do Chiến dịch Biên Giới diễn ra, việc học thay đổi, ông vào Thanh Hóa học Trường Nguyễn Thượng Hiền rồi tiếp tục học sư phạm tại Quảng Tây, Trung Quốc. Về nước, Trịnh Ngọc Trình xung phong lên Lai Châu, làm Hiệu trưởng Trường Tiểu học Mường Lay. Một người chỉ còn một tay lựa chọn nghề dạy học ở vùng cao khó khăn, cho thấy ông không muốn sống dựa vào sự cảm phục dành cho quá khứ. Ông chuyển kinh nghiệm chiến tranh thành công việc tạo cơ hội học tập cho trẻ em.
Năm 1962, thầy Trình làm Bí thư Đoàn Thanh niên Lao động Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông đề xuất phong trào “Tam bất kỳ”: đi bất kỳ nơi đâu Tổ quốc cần, làm bất kỳ việc gì Tổ quốc giao, vượt bất kỳ khó khăn nào để hoàn thành nhiệm vụ. Tối 30-4-1964, hàng nghìn sinh viên cầm đuốc tập hợp tại Nghĩa trang Mai Dịch và cùng tuyên thệ. Ngày 1-5, nhiều người trích máu viết quyết tâm thư xin nhập ngũ. Từ hạt nhân ấy, tinh thần phát triển thành phong trào “Ba sẵn sàng” rộng khắp miền Bắc.
Sau nhiều năm trong giáo dục và công tác Đoàn, Trịnh Ngọc Trình tiếp tục cống hiến qua HEDO, một tổ chức hướng tới phát triển giáo dục, y tế và giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số. Gần ba mươi năm trên cương vị giám đốc, ông cùng cộng sự triển khai hơn 200 chương trình, dự án tại 43 tỉnh, thành. Hoạt động gồm trường nội trú, bán trú, mẫu giáo, trung tâm xóa mù chữ, thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng nghề và hỗ trợ bảo tồn tiếng nói, chữ viết. Học bổng “Em Ngọc” được đặt theo câu chuyện thời niên thiếu của chính ông.
Tuổi cao và chỉ còn một cánh tay không ngăn ông lên vùng núi khảo sát. Có lần gặp tai nạn trên đường đèo, phải nằm viện, ông vẫn trở lại công việc sau hồi phục. Những dự án không được đánh giá bằng số lễ khánh thành, mà bằng khả năng một lớp học duy trì sau khi đoàn rời đi, giáo viên có chỗ ở và học sinh nghèo không bỏ học. Trịnh Ngọc Trình hiểu rất rõ khoảng cách giữa khẩu hiệu và kết quả, nên luôn tìm cách nối tài trợ với nhu cầu thực tế của từng địa phương.
Từ công văn giao giữa cánh đồng năm 1947 tới hơn 200 dự án ở 43 tỉnh là một đường đời đặc biệt nhất quán. Cậu bé mất tay đã không để thương tật giới hạn phần việc mình có thể đảm nhận. Ngọn đuốc tại Mai Dịch năm 1964 và những lớp học miền núi về sau cùng bắt nguồn từ một quan niệm: sẵn sàng nhận việc nơi khó khăn nhất. “Em Ngọc” vì thế không chỉ là bài đọc của một thời; đó là tên của một con người suốt đời biến lòng dũng cảm thành hành động giáo dục cụ thể.



