Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Trịnh Quang Xuân với ngục Kon Tum

đang cập nhật

Bắc Ninh21/03/2026Xã Bắc Lũng (Xã Bắc Lũng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trịnh Quang Xuân sinh ngày 25.12.1908 tại làng Phong Nhị, xã Điện An, huyện Điện Bàn. Năm 1926 tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội khi đang làm việc ở ngành hỏa xa. Năm 1931 bị bắt tại Quảng Bình khi đang điều khiển tàu, bị tống giam ở lao Vinh. Mùa hè năm 1932 bị đày lên ngục Kon Tum. Năm 1940 bị bắt lần nữa, lại đày lên căng an trí Đăk Glei – Kon Tum. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông là Xứ ủy viên Xứ ủy Trung kỳ. Năm 1948, ông là Quyền Giám đốc Sở Công an Liên khu V; 1951 Tỉnh ủy viên, Giám đốc Công an tỉnh Bình Định; 1954 tập kết ra Hà Nội, công tác ở Tổng cục Đường sắt, sau giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy Tổng cục Đường sắt,…

Hồi ký của Ngô Đức Đệ viết: “Mùa hè năm ấy (1932 - NV) từ nhà lao Vinh và nhà lao Quảng Nam, thực dân Pháp đưa lên một số chính trị phạm nữa, nhưng chỉ giam ở thị xã Kon Tum, không còn công trường Đăk Pét nữa. Trong số mới lên này có các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Hồ Văn Ninh, Trịnh Quang Xuân, v.v.”. Như vậy Trịnh Quang Xuân lên Kon Tum không phải đi làm đường 14, và lên sau sự kiện xảy ra hai cuộc đấu tranh đổ máu “Lưu huyết” và “Tuyệt thực” tháng 12.1931.

Một số tư liệu cho biết Trịnh Quang Xuân có làm nhiều thơ. Riêng giai đoạn Trịnh Quang Xuân bị giam giữ tại ngục Kon Tum (1932-1933, các tư liệu còn chép lại được 2 bài thơ “Viếng mồ liệt sĩ” (1932) và bài “Giã mồ liệt sĩ” (1933) của ông.

Bài Viếng mồ liệt sĩ sáng tác năm 1932, cảm đề về ngôi mộ chôn 8 liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12.12.1931 do phản đối đi làm đường 14 lần thứ hai. Cuộc đấu tranh bị đàn áp, khiến 8 người hy sinh tại chỗ.

Bài thơ được Lê Văn Hiến dẫn in lại trong ký sự Ngục Kon Tum xuất bản năm 1938. Năm 1981 được tuyển in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 31. Theo Lê Văn Hiến và Ngô Đức Đệ cho biết thì đây là một đề thơ chung của Ngục Thất Tao Đàn ra cho các thành viên (vào mỗi tuần) để thi nhau làm thơ. Lê Văn Hiến viết: “Mỗi tuần làm một bài do anh em ra đề, mà cũng do anh em lựa chọn bài nào hay thì thưởng. Phần thưởng không có gì lạ: chỉ một vài cái bánh ú nếp, năm ba cái bánh tráng (bánh đa), bài thơ nào hay lắm, tuyệt bút lắm, thì được thêm vài ba trái chuối”. (Có lẽ đây là cái “giải thưởng văn học” độc đáo mà chúng ta biết được!). Với bài thơ này Trịnh Quang Xuân đã xuất sắc nhận được giải Nhất của cái “giải thưởng” ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn